Hiển thị các bài đăng có nhãn 7. Kháng chiến chống Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 7. Kháng chiến chống Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 11, 2021

[7.38] Không ảnh chụp trận địa rocket 140mm của Quân giải phóng miền Nam sau khi bắn phá vào sân bay Đà Nẵng ngày 27/2/1967.

20211104


Không ảnh chụp trận địa rocket 140mm của Quân giải phóng miền Nam sau khi bắn phá vào sân bay Đà Nẵng ngày 27/2/1967.


Bộ đội Việt Nam đã sử dụng 140 đạn rocket loại 140mm, bố trí thành 2 hàng, mỗi hàng có nhiều cụm, mỗi cụm từ 10 đến 12 đạn, có bố trí hầm cho người điểm hỏa.


Thông tin phía Mỹ cho biết, đây là lần đầu tiên bộ đội Việt Nam sử dụng rocket ở miền Nam Việt Nam để tấn công quân Mỹ.

Có thể nhìn thấy các vệt lửa đạn thiêu đốt mặt đất sau khi phóng.




Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

[7.37] Đánh dấu trên bản đồ các điểm đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam thực hiện đánh phá tuyến ống dẫn dầu hoặc phục kích phương tiện vận tải/ đoàn xe Mỹ trên trên QL19 địa bàn Bình Định và Gia Lai, năm 1968.

2021101373060


Đánh dấu trên bản đồ các điểm đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam thực hiện đánh phá tuyến ống dẫn dầu hoặc phục kích phương tiện vận tải/ đoàn xe Mỹ trên trên QL19 địa bàn Bình Định và Gia Lai, năm 1968.




Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2021

[7.36] Không ảnh (35): Không ảnh 1 đoạn đường kín (bằng giàn che) trên tuyến đường Hồ Chí Minh (Do máy bay trinh sát không quân Mỹ chụp), phía đông cao nguyên Bô lô ven (Lào)

2021091250026

Làm giàn che trên 1 đoạn đường mòn Hồ Chí Minh, ở phía Đông cao nguyên Boloven (Lào).
Không rõ thời gian chụp ảnh này.



Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2021

[7.35] Không ảnh (34): Ảnh màu của máy bay trinh sát không quân Mỹ chụp các xe ô tô vận tải chạy trên đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào, năm 1966

2021091048025


Ảnh màu của không quân Mỹ chụp từ máy bay trinh sát Mỹ về đánh phá tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào, năm 1966. Một số ảnh có xuất hiện xe ô tô vận tải của bộ đội Việt Nam.















Thứ Năm, 9 tháng 9, 2021

[7.34] Tàu không số/ Đường Hồ Chí Minh trên biển Đông - Những con tàu huyền thoại (3): Hải trình của tàu không số 187, từ 15/6/1966 đến 20/6/1966 (Ngày bị chặn đánh ở Trà Vinh)

2021090936393


Hải trình của tàu không số 187, từ ngày 15/6/1966 đến 20/6/1966 (Ngày bị chặn đánh ở Trà Vinh)




[7.33.1] Tàu không số/ Đường Hồ Chí Minh trên biển Đông - Những con tàu huyền thoại (2) - Phần 2: Sự kiện hải quân Mỹ chặn đánh tàu không số 100 của Lữ đoàn 125 hải quân nhân dân Việt Nam ngày 10/5/1966 tại cửa sông Rạch Già (Cà Mau) ngày 9 và 10/5/1966

2021090968054 - Phần 2


2. Tóm tắt thông tin của phía Mỹ

Đêm 9/5/1966, tàu Point Grey bắt đầu các chuyến tuần tra như thường lệ ở khu vực biển phía Đông bán đảo Cà Mau. Khoảng 22 giờ, khi tuần tra ở khu vực cách bờ biển khoảng 4 hải lý, tàu Point Grey quan sát thấy có đống lửa lớn trên bãi biển. Sau khi tiếp cận bờ biển, tàu phát hiện có 2 đống lửa lớn ở khu vực Bắc lối vào cửa sông Rạch Già. Nhận thấy sự bất thường từ sự xuất hiện của 2 đống lửa, tàu Point Grey quyết định duy trì giám sát khu vực này suốt đêm.

Lúc 0 giờ 10 phút ngày 10/5/1966, radar của tàu Point Grey phát hiện một tàu vỏ sắt, đang tiến vào ở góc 260 độ với tốc độ khoảng 10 hải lý/ giờ. Tàu Point Grey tiếp cận tàu lạ và đến 1 giờ 20 tàu Point Grey đánh tín hiệu liên lạc, tuy nhiên không có tín hiệu trả lời. Tàu Point Grey tiếp tục tiến gần đến khoảng cách 400 mét và sử dụng đèn pha để tìm kiếm, phát hiện ra tàu lạ là 1 tàu đánh cá. Tàu Point Grey lập tức liên lạc về Trung tâm giám sát hàng hải tại An Thới, báo cáo có 1 tàu cá vỏ sắt thay đổi tốc độ và hành trình di chuyển hướng Tây Bắc. Tàu Point Grey tiếp tục đi theo sát tàu cá.

Lúc 2 giờ, tàu cá vỏ sắt đi đến khu vực xuất hiện các đống lửa trên bờ biển. Lúc 3 giờ 15, phát hiện tàu cá đang trôi dạt trên biển. Tàu Point Grey bắn pháo sáng chiếu sáng khu vực, tiếp cận sát tàu cá, cách tàu cá 100 mét và gọi sang tàu cá. Không có trả lời từ phía tàu cá. Nhìn thấy thoáng qua có ba hoặc bốn người trên tàu cá, tuy nhiên những người này cố gắng tránh lộ diện.

Lúc 5 giờ, tàu cá ở vị trí cách bờ biển khoảng 1km, và bắt đầu trôi vào khu vực nước nông (?).

Khi trời sáng, phát hiện tàu cá bị mắc cạn cách bờ khoảng 400 mét. Lúc 7 giờ, tàu Point Grey tiếp cận và cố gắng lên bong tàu cá. Sự nghi ngờ về tàu cá càng gia tăng, khi tàu Point Grey bị bắn dữ dội từ bờ biển. Tàu Point Grey bắn trả lại và quay ra vị trí cách bờ biển khoảng 1,5 km để chờ tiếp viện.

Các tàu Brister và Vireo đang trên đường đến khu vực. Sở chỉ huy cũng ra lệnh cho tàu Point Cypress đến khu vực và đề nghị lực lượng hải quân VNCH cử lực lượng đến khu vực. Hải quân VNCH cử đến khu vực 5 tàu tuần tra và 1 tàu chỉ huy LSIL 328 và tàu PGM 614. Tàu Brisyter đến khu vực lúc 11 giờ 45, nhưng do mực nước thấp nên tàu chỉ đến được vị trí cách bờ biển khoảng 7,5 km.

Thủy triều và điều kiện sóng biển đã tiếp tục cản trở việc tiếp cận lên boong tàu cá, đồng thời làm tàu cá trôi dạt thêm khoảng 100m vào gần bờ, gần khu vực bao phủ bởi rừng ngập mặn dày đặc.


Lúc 13 giờ 50, không quân yểm trợ đã đến khu vực. Được không quân yểm trợ, tàu Point Grey lại tiến về phía tàu cá. Khi tiến đến cách bờ khoảng 200 m, tàu Point Grey bị hỏa lực súng bộ binh bắn chính xác từ khu vực rừng ngập mặn ra, làm ba thủy thủ tàu Point Grey trên mũi tàu bị thương [Tàu Point Grey biên chế 8 thủy thủ và sỹ quan]. Tàu Point Grey ngay lập tức lùii về vị trí cách bờ khoảng 400m, sau đó quay ra khu vực nước sâu hơn. Ba thủ thủ bị thương được chuyển sang tàu Brister để cứu chữa.

Các đơn vị tiếp tục bắn phá khu vực trong suốt buổi chiều để ngăn chặn các lực lượng Bắc Việt tiếp cận con tàu. Một số phát đạn đã bắn trúng tàu cá và gây nên một vài đám cháy và nổ nhỏ.

Lúc 17 giờ, sóng và thủy triều đã đẩy dịch con tàu vào gần bờ hơn, lúc này chỉ còn cách bờ gần 50 mét, và có khả năng tàu sẽ chìm trước khi trời tối. Khi đó, các lực lượng Bắc Việt sẽ cố gắng tiếp cận con tàu và vận chuyển hàng hóa từ con tàu vào bờ trong màn đêm dày đặc. Quyết định được đưa ra là phá hủy con tàu. Mệnh lệnh phá hủy con tàu được thông qua lúc 17 giờ 26, và bắt đầu lúc 17 giờ 50. Các đơn vị bắn pháo và máy bay ném bom oanh tạc con tàu, gây nên những đám cháy và nổ đến tận 20 giờ 30, khi một tiếng nổ lớn bẻ con tàu thành 2 phần và chìm trong lửa. Quá trình bắn phá ngừng lại, và thay vào đó là bắn pháo sáng chiếu sáng khu vực cho đến hết đêm.

Đầu giờ sáng 10/5/1966, 3 tàu Hải quân VNCH, và 5 tàu/ thuyền nhỏ cùng đến khu vực. Con tàu vận tải bị gãy đôi và khó vận chuyển về cảng. Khu vực lúc này yên tĩnh, và các lực lượng VNCH tiến hành thiết lập các điểm phòng thủ bảo vệ hiện trường. Với sự trợ giúp của các đơn vị Mỹ và VNCH, tàu LSIL 328 [Giang Pháo Hạm 328 Thần Tiễn (LSIL - Landing Ship Infantry Light)] bắt đầu tiến hành chiến dịch trục vớt tàu vận tải Bắc Việt. Chỉ huy tàu LSIL 328 được giao làm chỉ huy trưởng chiến dịch trục vớt. Ngoài ra, lực lượng đặc nhiệm hải quân Mỹ và thợ lặn hải quân VNCH cũng đến hiện trường tham gia trục vớt. Công việc trục vớt được tiến hành thuận lợi vào ban ngày, ban đêm tàu và máy bay liên tục thả pháo sáng suốt đêm để bảo vệ khu vực.

Lúc 15 giờ ngày 12/5/1966, chiến dịch trục vớt bị dừng lại do lực lượng Bắc Việt tấn công, làm cho lực lượng bảo vệ trên bờ phải rút lui ra biển. Máy bay được gọi đến và tiếng súng tạm im. Lúc 16 giờ 10, chỉ huy hải quân VNCH đến hiện trường và chỉ huy trực tiếp chiến dịch trục vớt, được tiếp tục lúc 18 giờ.


Chiến dịch trục vớt kết thúc lúc 10 giờ 15 ngày 13/5/1966 và các đơn vị bảo vệ rút khỏi hiện trường. Tất cả vũ khí đạn dược trục vớt được đưa lên tàu LSIL 328 chở về Sài Gòn. Tàu Brister sử dụng pháo bắn vào xác tàu vận tải Bắc Việt để phá hủy hoàn toàn xác tàu, sau đó tiếp tục thực hiện các chuyến tuần tra vào lúc 19 giờ.

Tấm bảng hiệu do thợ lặn gỡ ra từ máy tàu cho thấy được sản xuất tại Đông Đức năm 1964. Một số bảng hiệu khác cho thấy xuất xứ từ Pháp và Trung Quốc. Đặc biệt, phát hiện đạn cối 120mm được sản xuất tại Trung Quốc năm 1965. Đây là lần thứ 2 đạn dược kiểu này được phát hiện ở Nam Việt Nam, và lần đầu tiên xuất hiện tại đồng bằng sông Cửu Long.

Các loại vũ khí, đạn dược, trang bị trục vớt được từ con tàu vận tải Bắc Việt

Vũ khí

  • 1 súng 12,7mm
  • 3 súng máy Sô viết loại SG 43
  • 1 súng DKZ 57mm
  • 1 súng máy kiểu MG34



Đạn dược: Thu được khoảng 15 tấn

  • Đạn súng cối 120mm
  • Đạn súng 12,7mm
  • Đạn cối 82mm
  • Đạn cối 81mm (Sản xuất tại Mỹ trong thế chiến II)
  • Đạn DKZ 75mm
  • Đạn cối 60mm
  • Đạn DKZ 57mm
  • Thuốc nổ TNT
  • Ngòi nổ


Các trang bị khác

  • Máy chiếu phim
  • Âm ly
  • Loa
  • Máy ghi nhạc
  • Phim truyện
  • Vật tư để phục vụ công tác tuyên truyền

3. Không ảnh chụp tàu không số 100 bị phá hủy thành 2 phần, sát bờ biển ngày 10/5/1966 (gần cửa sông Rạch Già - Cà Mau). Tàu nhỏ hơn bên trái hình là tàu của quân Sài Gòn trục vớt vũ khí từ tàu số 100



Hình ảnh tàu lúc mắc cạn và chưa bị phá hủy



[7.33] Tàu không số/ Đường Hồ Chí Minh trên biển Đông - Những con tàu huyền thoại (2): Sự kiện hải quân Mỹ chặn đánh tàu không số 100 của Lữ đoàn 125 hải quân nhân dân Việt Nam ngày 10/5/1966 tại cửa sông Rạch Già (Cà Mau) ngày 9 và 10/5/1966

2021090968054


1. Thông tin phía Việt Nam

Sau khi tàu 69 vào bến, một ngày sau, đêm 23 rạng 24 tháng 4 năm 1966, tàu 100 được lệnh rời bến Bính Đông. Tàu 100 do thuyền trưởng Lê Minh Sơn và chính trị viên Nguyễn Hữu Tương chỉ huy. Thuyền phó là Ngô Văn Sở và Phạm Ngọc Điển; các thủy thủ gồm: Nguyễn Thành Thưởng, Lê Văn Cớt, Đàm Văn Chung, Phùng Văn Quý, Trần Văn Đua, Đặng Thanh Bàn, Lê Xuân Giản, Đoàn Văn Minh, Lê Văn Thi, Lê Văn Tưởng, Cao Văn Thiện, Lê Công Khanh.

Đi được một ngày, theo lệnh của Sở chỉ huy, tàu dửng lại ở A3. Ngày 5 tháng 5, tàu tiếp tục lên đường. Sáu ngày đầu, tàu đi trong sự yên tĩnh. Ngày thứ 7, khi tàu ở vào toạ độ 09o55 vĩ bắc, 109o30 kinh đông thì gặp một tàu khu trục Mỹ. Vừa phát hiện tàu lạ, chiếc khu trục tăng tốc độ, bám sát. Cuộc "hộ tống” kéo dài nhiều giờ. Tàu 100 mấy lần định “cắt đuôi” nhưng không được. Đêm 9 rạng 10 tháng 5, tàu quyết định chuyển hướng vào bờ. Máy bay trinh sát của địch phát hiện được, lập tức chúng báo động và điều tàu chiến đấu. Sau đó một thời gian, chiếc tàu chiến của hải quân Mỹ mang tên Uscg Cuher Poiut Grey đã có mặt. Chúng đánh tín hiệu xin cập mạn. Tàu ta vẫn không đáp. Tàu Mỹ chạy nhanh về phía trước, có ý chặn đường, nhưng tàu 100 vẫn tiến thẳng, sẵn sàng đâm vào tàu địch. Thấy vậy, tàu Mỹ phải tránh sang một bên. Song tàu Cuher Poiut Grey vẫn bám sát tàu ta, với ý định đe doạ, buộc tàu 100 phải đầu hàng. Tàu 100 không nổ súng trước, mà tranh thủ đi nhanh về phía bờ. Lúc này, thấy ám hiệu: hai đống lửa ở cửa Bồ Đề, nên tàu đã đi vào cửa Rạch Già. Đêm đó nước ròng, tàu vào tới Rạch Già thì bị mắc cạn

Ngoài khơi, địch điều thêm 3 tàu chiến nữa với ý định cướp tàu ta. Trước tình hình đó, chi ủy, cán bộ tàu 100 quyết định cho anh em lên bờ, bắt liên lạc với bến. Trước khi rời tàu, đồng chí Phạm Ngọc Điển thuyền phó và đồng chí Lê Văn Cớt thợ máy ở lại điểm hoả để phá tàu và phá vũ khí. Song không rõ nguyên cớ gì, tàu 100 không nổ. Tàu của địch không dám vào gần tàu ta, nó ở xa 200 mét đánh tín hiệu xin cập mạn. Nó tưởng trên tàu 100 vẫn còn người.

Tàu địch kéo còi mấy lần, không thấy tàu ta đáp lại chúng cho hai tên liều mạng bơi về phía tàu 100 thăm dò. Nhưng lúc đó, lực lượng ở bến do đồng chí Tư Mao chỉ huy đã ra kịp thời, bắn xả vào mấy tên địch, buộc chúng quay lại.

Lúc ấy trời đã gần sáng. Khả năng giữ được tàu, không cho địch kéo đi rất khó. Đồng chí Tư Mao cùng với thợ máy Cớt và Hải, một du kích của bến, bơi ra tàu thu thập tài liệu liên quan đến chuyến đi và bí mật của đơn vị.

Suốt ngày hôm đó, các thủy thủ tàu 100 phối hợp với lực lượng ở bến chiến đấu kiên cường, quyết không cho địch vào gần cướp tàu.

Khoảng gần trưa, thêm hai tàu nữa của địch đến. Chúng dàn đội hình quây lấy tàu 100, đồng thời xả đạn vào bờ. Song vẫn bị chống trả quyết liệt nên ý định cướp tàu không thành. Máy bay trực thăng, máy bay phản lực đến dội bom, bắn phá khu vực, với mục đích không cho ta bám tàu. Sau mỗi đợt bắn phá, tàu địch lại vào, anh em ta đánh rát, chúng lại dạt ra. Mãi đến 10 giờ sáng ngày hôm sau, biết không bắt sống được tàu ta, bọn địch ném bom xuống tàu. Thuốc nổ của bom, thuốc nổ trên tàu và vũ khí chứa trong nó, khiến con tàu bùng lên dữ dội và mất dạng. Như vậy là ý định bắt sống cán bộ chiến sĩ và cướp tàu ta của kẻ địch không thực hiện được. Đã vậy, địch bị nhiều tổn thất. "Trời vừa mờ sáng, tàu Poăng-gơ-rây đã đến cách mục tiêu 500 mét, dự định đổ bộ lên tàu địch (tức tàu 100), nhưng đã gặp sự kháng cự mãnh liệt của hoả lực tử các bụi rậm trên bờ bắn xuống. Tàu Poăng-gơ-rây đã cố giữ vững vị trí và anh dũng chống trả với tất cả hoả lực... Cuộc chống trả dai dẳng và gay go này đã làm cho tàu Poăng-gơ-rây bị nhiều thiệt hại, ba pháo thủ tiền vệ bị thương, vỏ tàu bị nhiều vết đạn xuyên phá...". Đó là lời thú nhận của kẻ địch trong một tài liệu sau này Đoàn 125 thu được.

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

[7.37] Không ảnh (33): Ảnh đoàn xe ô tô vận tải trên 1 đoạn ngã ba đường mòn Hồ Chí Minh

2021090644018


Ảnh đoàn xe ô tô vận tải trên 1 đoạn ngã ba đường mòn Hồ Chí Minh. Các xe vận tải không chở hàng. Đáng chú ý là trong ảnh có 1 người lái xe đứng bên cạnh xe ô tô.

Ảnh do máy bay trinh sát phản lực chuyên dụng Mỹ chụp, có lẽ ở thời điểm ngừng bắn?




[7.36] Không ảnh (32): Khoảnh khắc 1 xe ô tô vận tải của Quân đội nhân dân Việt Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh bị ném bom

2021090644017

Khoảnh khắc 1 xe ô tô vận tải của Quân đội nhân dân Việt Nam (Mũi tên đỏ) trên đường mòn Hồ Chí Minh bị ném bom. Quả bom có lẽ nổ phía trước chiếc xe, tung bụi mù mịt và gây đám cháy phía trước mũi xe. Chỗ đốm lửa cháy sáng có lẽ là 1 ô tô tải bị cháy do trúng bom.




Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2021

[6.35] Không ảnh (31): Hình ảnh khu vực thành cổ Quảng Trị - Quốc lộ 1A - đường sắt bắc nam, năm 1953

20210904


Hình ảnh khu vực thành cổ Quảng Trị - Quốc lộ 1A - đường sắt bắc nam, năm 1953





Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2021

[7.32] Hình ảnh nhà cửa, khu làm việc của 1 đơn vị tuyên huấn tại Chiến khu C - Tây Ninh, 3/1967

 2021022152024


Một số hình ảnh cảu đơn vị tuyên huấn tại căn cứ bộ đội Việt Nam trong Chiến khu C (Tây Ninh), tháng 3/1967, bị quân Mỹ phát hiện:

- Nhiều xe đạp bị bỏ lại bên cạnh 1 ngôi nhà lá cỡ lớn dưới tán lá cây rừng dày đặc.

- Một chảo gang nấu thực phẩm bị bỏ lại ở khu bếp, lúc này vẫn còn ấm nóng.

- Dãy lán trại làm việc của bộ phận làm khẩu hiệu tuyên truyền.

- Một ngôi nhà lá có lẽ là nơi làm việc của Ban chỉ huy, vì có cửa xuống hầm ngầm ở góc phải dưới tấm ảnh.

Nguồn ảnh: Quân đội Mỹ








Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020

[7.31] Không ảnh (26): Không ảnh cầu tàu của bến tàu không số K15 tại khu vực Đồ Sơn (Hải Phòng) của Lữ đoàn 125 vận tải - Hải quân Nhân dân Việt Nam, năm 1966

 20201111


Không ảnh cầu tàu của bến tàu không số K15 tại khu vực Đồ Sơn (Hải Phòng) của Lữ đoàn 125 vận tải - Hải quân Nhân dân Việt Nam, năm 1966




Thứ Tư, 25 tháng 3, 2020

[7.30] Chiến dịch Lam Sơn 719 (Chiến dịch phản công đường 9 nam Lào 2/1971): Mệnh lệnh hành quân của Sư đoàn dù quân đội Việt nam cộng hòa

20200325

Mệnh lệnh hành quân của Sư đoàn dù quân đội Việt nam cộng hòa, do Rongxanh đánh máy năm 2007.

-----------------------------------------------



Lệnh hành quân
Lam Sơn 917-Đại Bàng 2-1971
Bản số 23/27 Sư đoàn nhảy dù/HQ
Đông Hà YD. 240590, ngày 030300H/02/71

Tham chiếu:
-Lệnh hành quân Lam Sơn 719 ngày 30/01/1971 của BTL/QĐ1/QK1
-Bản đồ loại… Từ số… tỷ lệ 1/100.000.

Tổ chức lực lượng:
-Bộ tư lệnh/sư đoàn nhảy dù
-Chiến đoàn đặc nhiệm:
+Lữ đoàn 1 kỵ binh (2 thiết đoàn)
+Lữ đoàn 1 nhảy dù
+Tiểu đoàn 101 công binh
-Lữ đoàn 2 nhảy dù
-Lữ đoàn 3 nhảy dù
-Tiểu đoàn 44/PB/155 ly
-Trung đội khai quang (khi có lệnh QĐ1)
-Các đơn vị yểm trợ tác chiến cơ hữu/SĐND

I.Tình hình
A-Địch: Phụ bản A, tình báo (kèm theo).

B-Bạn:
1.Sư đoàn 1 bộ binh (-): Hành quân song song phía Nam theo trục xanh.


2.Liên đoàn 1 biệt động quân hành quân song song phía Bắc theo trục nâu.


3.Lữ đoàn 1/5 cơ giới Hoa Kỳ hoạt động phía Tây Tây Bắc căn cứ Hàm Nghi. 2 tiểu đoàn pháo binh nặng Hoa Kỳ tại Tà Bạt.


4.Lữ đoàn 147/TQLC hoạt động Đông Nam căn cứ Hàm Nghi.

C-Tăng phái và xuất phát:
1.Xem tổ chức lực lượng 2.Các lữ đoàn sẽ được tăng phái các toán huỷ TĐ1 01, CB khi có lệnh.

II.Nhiệm vụ
1.Sư…


2.Sư đoàn nhảy dù là nỗ lực chính trong cuộc hành quân hỗn hợp không lực theo trục DO, nhằm cắt đứt hệ thống tiếp vận của Cộng sản Bắc Việt, tìm diệt địch và phá huỷ tối đa các quân dụng kho tàng của chúng trong căn cứ 604.

III.Thi hành

A.Quan niệm hành quân: (Phụ lục B phóng đồ đính kèm)
Xuất phát từ căn cứ Hàm Nghi, hành quân bộ theo dọc đường 548 và trực thăng vận xuất nhập các khu vực mục tiêu A-lưới và A-sầu, thiết lập các căn cứ hành quân và căn cứ hoả lực, tổ chức hành quân tuần thám, lùng diệt địch, phá hủy kho tàng trong khu vực trách nhiệm.


Cuộc hành quân sẽ được thực hiện bằng 4 giai đoạn:
+Giai đoạn 1 (từ N đến N+8)[30/1 đến 7/2]:
Di chuyển toàn bộ sư đoàn nhảy dù và các đơn vị tăng phái đến phối trí xung quanh khu vực căn cứ Hàm Nghi.


-Ngày N+5: BTL/SĐND+LĐ3ND
-Ngày N+6: Chiến đoàn đặc nhiệm
-Ngày N+6: Lữ đoàn 1 nhảy dù
-Ngày N+7: Lữ đoàn 2 nhảy dù

+Giai đoạn 2 (từ ngày N+9 đến N+15)2 [8/2 đến 14/2]:


a.Sử dụng chiến đoàn đặc nhiệm (-TĐND) làm nỗ lực chính, xuất phát từ Tà Bạt, tiến quân dọc theo đường 548 (Đường 9), về phía Tây, giao tiếp và hỗ trợ cho 1 TĐND trực thăng vận chiếm mục tiêu A-lưới (Bản Đông) và thiết lập căn cứ hoả lực tại đây. Đồng thời lữ đoàn 3 nhảy dù được trực thăng vận cấp tiểu đoàn chiếm các khu vực cao điểm 30-31 (Điểm cao 450-543) phía Bắc đường 548 và thiết lập các căn cứ hoả lực để hỗ trợ mặt Bắc cho cánh quân cơ giới/chiến đoàn đặc nhiệm (giai đoạn tuyến ALFA).

b.Theo lệnh


-Chiến đoàn đặc nhiệm (-) tiếp tục tiến công chiếm mục tiêu 11, đồng thời tiểu đoàn 3 nhảy dù trực thăng vận cả tiểu đoàn chiếm khu vực cao điểm 32, thiết lập căn cứ hoả lực. Sau đó chiến đoàn đặc nhiệm (-) chia làm 2 cánh quân, một cánh tiến chiếm mục tiêu 13, 14, thiết lập căn cứ hoả lực tại mục tiêu 12 giao tiếp với lữ đoàn 2 nhảy dù tại cầu ASHAU1 (Sê-pôn) (giai đoạn tuyến BCAVO).


-Lữ đoàn 2 nhảy dù trực thăng vận xâm nhập mục tiêu ASHAU giao tiếp với chiến đoàn đặc nhiệm. Sau đó trực thăng vận chiếm các mục tiêu 21-22 và thiết lập các căn cứ hoả lực.

+Giai đoạn 3:
Củng cố các căn cứ hành quân và căn cứ hoả lực tổ chức hành quân lục soát, tiêu diệt lực lượng địch, khám phá và tiêu huỷ tới mức tối đa các quân dụng cũng như kho tàng của địch trong phạm vi trách nhiệm.

+Giai đoạn 4:
Đoạn lệnh hành quân sẽ ban hành sau.

B-Chiến đoàn đặc nhiệm:

1.Giai đoạn 1


-Ngày N+6 di chuyển toàn bộ vào khu vực tập trung phía Tây Nam Hàm Nghi, sau đó di chuyển đến khu vực tuyến xuất phát. Tiếp nhận lữ đoàn 1 nhảy dù đặt dưới quyền điều động hành quân kể từ N+9.

2.Giai đoạn 2


-Ngày N+9, chiến đoàn (-) xuất phát từ Tà Bạt tiến theo đường 548 về phía Tây, giao chiến với một tiểu đoàn nhảy dù trực thăng vận chiếm A-lưới và thiết lập căn cứ hoả lực tại đây-theo lệnh tiến chiếm mục tiêu 11, sau đó chia làm 2 cánh quân: 1 cánh chiếm mục tiêu 13, 14 và thiết lập căn cứ hoả lực tại mục tiêu 14. Trù liệu khi cần thiết, sử dụng một tiểu đoàn nhảy dù trực thăng vận hỗ trợ cho việc chiếm mục tiêu 14. Một cánh tiến chiếm mục tiêu 12 giao tiếp với lữ đoàn 2 nhảy dù.


Sẵn sàng tiếp ứng cho lữ đoàn 2 nhảy dù ở phía Tây hoặc tăng cường một thiết đoàn cho lữ đoàn 2 nhảy dù khi có lệnh.


Bảo vệ công binh thiết lập cầu ASHAU.


3.Giai đoạn 3:

-Duy trì và bảo vệ an ninh đường 548 từ cầu ASHAU đến Tà Bạt.


-Mở rộng hành quân lục soát và tiêu diệt địch, phát hiện và tiêu huỷ tối đa quân dụng cũng như kho tàng của địch trong khu vực trách nhiệm.

4.Tiểu đoàn 1 PB sẽ do BCH/PB/SĐND phối trí tạm thời, được đưa vào vùng theo nhu cầu của chiến đoàn.

C.Lữ đoàn 1 nhảy dù:


1.Giai đoạn 1: Di chuyển đến vùng tập trung
2.Giai đoạn 2: Đặt dưới quyền điều động hành quân của chiến đoàn đặc nhiệm kể từ N+9.
3.Giai đoạn 3: Theo lệnh.

D.Lữ đoàn 3 nhảy dù:


1.Giai đoạn 1: Ngày N+5 di chuyển chiến thuật đến căn cứ Hàm Nghi cùng với BTL/SĐND.


2.Giai đoạn 2:
-Ngày N+9, trực thăng vận 2 tiểu đoàn chiếm các khu vực cao điểm 30, 31 và thiết lập căn cứ hoả lực. Theo lệnh sẽ trực thăng vận 1 tiểu đoàn chiếm khu vực 32 thiết lập căn cứ hoả lực (dự trù vào ngày N+10).


-Lục soát khu vực trách nhiệm, ngăn chặn địch xâm nhập từ phía Bắc xuống theo đường 14 để hỗ trợ sườn Bắc cho nỗ lực chính. Theo lệnh sẽ lãnh trách nhiệm một phần khu vực chiến đoàn đặc nhiệm dọc theo đường 548.


-Làm lực lượng trù bị, sẵn sàng được điều động tiếp ứng lữ đoàn 2 nhảy dù và chiến đoàn đặc nhiệm khi có lệnh.

3.Giai đoạn 3:


-Mở rộng hành quân lục soát tiêu diệt địch, khám phá và triệt hạ các kho tàng.


-Sử dụng đơn vị cấp nhỏ để phá hoại trục lộ 14 nhằm cô lập hoá khu vực A-lưới.


-Tiếp tục nhiệm vụ trù bị.

E.Lữ đoàn 2 nhảy dù


1.Giai đoạn 1: Di chuyển đến Hàm Nghi


2.Giai đoạn 2:


-Theo lệnh sẽ trực thăng vận vào chiếm mục tiêu ASHAU, giao tiếp với chiến đoàn đặc nhiệm tại ASHAU, lập căn cứ hoả lực.


-Trực thăng vận chiếm các mục tiêu 21-22, lập căn cứ hoả lực.


-Sẵn sàng tiếp nhận 1 tiểu đoàn do chiến đoàn đặc nhiệm tăng phái khi có lệnh.

3.Giai đoạn 3:


-Tiếp nhận công binh tăng phái để sửa chữa phi đạo tại ASHAU hầu có thể tiếp tế không vận (C.123 hoặc C.130).


-Mở rộng hành quân lục soát tiêu diệt địch, khám phá và triệt hạ tối đa các kho tàng của địch. Tổ chức các đợt hoạt động ngăn chặn địch bằng cách sử dụng đơn vị cấp nhỏ lưu động và triệt để phá hoại các trục lộ 21 và 548 nhằm cô lập hoá khu vực ASHAU.

F.Tiểu đoàn 101 công binh:


1.Tăng phái cho lữ đoàn nhảy dù kể từ N+7.


2.Nhiệm vụ yểm trợ thiết lập các căn cứ hoả lực, sửa chữa đường sá, cầu cống, thiết lập cầu ASHAU.


3.Sẵn sàng tăng phái các toán phá huỷ cho các lữ đoàn khi có lệnh.


4.Sửa chưa phi đạo ASHAU.

G.Tiểu đoàn 44 PB/155 ly


Trong giai đoạn 1 (N+6) di chuyển đến Hàm Nghi nhận lệnh trực tiếp của BCH/PB/SĐND.

H.BCH/PB/SĐND


-Sắp xếp việc phối trí tiểu đoàn 1 PB/ND trong thời gian chờ chiến đoàn đặc nhiệm điều động vào vùng hành quân.


-Tiếp nhận tiểu đoàn 44PB/155 ly và phối trí sơ khởi tại Tà Bạt.

I.Phương tiện và yểm trợ


1.Pháo binh: Phụ bản C đính kèm


2.Không quân:


-Quân đoàn 1 cung cấp L.19 và khu trục theo nhu cầu.


-Hoa Kỳ cung cấp mỗi ngày 1 phi cơ thám sát OV10 bao vùng, 24 phi tuần khu trục.


3.Không binh


-Quân đoàn 1 cung cấp trực thăng chỉ huy + tiếp tế + tải thương + chuyển quân và võ trang theo nhu cầu.
-Hoa Kỳ cung cấp mỗi ngày 2 trực thăng chỉ huy + 8 trực thăng đa dụng.
-Trực thăng chỉ huy + tiếp tế + tải thương chuyển quân và võ trang theo nhu cầu.

J.Trù bị


1.Ưu tiên 1: Bằng lực lượng cơ hữu theo quan niệm không chạm địch là trù bị.


2.Ưu tiên 2: Lữ đoàn 9 nhảy dù


3.Ưu tiên 3: Do quân đoàn 1 cung cấp

K.Huấn thị phối hợp


1.Ngày N ngày 30/1/1971


2.Các đơn vị phải lưu ý chiếm giữ các cao điểm trọng yếu.


3.Trang bị phải nhẹ nhàng và gọn. Mỗi binh sĩ phải có đủ bao cát, xẻng, dao rừng, súng M.72. Lưu ý mang theo các trang bị đặc biệt như áo giáp, mặt nạ, lựu đạn cay, E8 và tối đa mìn Claymor.


4.Để tránh ứ đọng, phải tranh thủ thời gian chuyển vận và tránh tập trung binh sỹ quá đông một chỗ, nên sử dụng phân tán với nhiều bãi đáp và bãi bốc.


5.Hạn chế liên lạc vô tuyến trong khi chuyển quân, triệt để áp dụng vô tuyến, bảng ám danh đàm thoại/SĐND.


6.Các đoàn xe hoặc xe cộ di chuyển lẻ tẻ trong khu vực hành quân phải được đánh dấu bằng biểu tín hiệu để dễ phân biệt địch, bạn.


7.Tuyệt đối không di tản dân chúng địa phương, tị nạn chiến tranh về hậu phương.


8.Tù binh phải được di chuyển cấp tốc về BTL/SĐND để khai thác và chuyển giao quân đoàn 1.


9.Cần tiết kiệm và hạn chế việc tiêu thụ đạn dược vô ích vì vấn đề tiếp vận có thể khó khăn


10.Loại trừ các loại đạn AK47 và đạn súng cối 82, các loại quân trang quân dụng tịch thu được sẽ phá huỷ tại chỗ (nếu không có chỉ thị nào khác) để tiết giảm nhu cầu không vận.


11.Các đơn vị công binh phải mang theo chất nổ… để sử dụng cấp thời phá huỷ các quân dụng, kho tàng cũng như các trục lộ cầu cống của địch.


12.Liên lạc…


13.Báo cáo…


14.Nhu cầu trực thăng chuyển quân phải gửi về BTL/SĐND trước 0900H ngày hôm trước để kịp chuyển xin quân đoàn. Riêng oanh kích tiên liệu phải xin trước 36 tiếng.


15.Tuyệt đối cấm phổ biến tin tức hành quân cho báo chí trong bất cứ trường hợp nào.

II.Hành chính tiếp vận
Phụ lục D đính kèm

III.Chỉ huy và truyền tin


A.Truyền tin: Phụ bản E đính kèm


B.Chỉ huy


-BTL/SĐND/HQ đóng tại Hàm Nghi kể từ ngày N+5


-Chỉ huy trưởng chiến đoàn đặc nhiệm là Đại tá Lữ đoàn trưởng lữ đoàn 1 kỵ binh, chỉ huy phó là Đại tá Lữ đoàn trưởng lữ đoàn 1 nhảy dù.

Trung tướng Dư Quốc Đống
Tư lệnh sư đoàn nhảy dù

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

[7.29] Không ảnh (17): Khu vực trọng điểm ném bom ngầm Thà Khống trên QL9 (Lào), sân bay Xê Pôn (Lào), trong kháng chiến chống Mỹ

20200212

Khu vực trọng điểm ném bom ngầm Thà Khống trên QL9 (Lào) vượt qua sông Sê Bang Hiêng. Phía trên - trái là sân bay Xê Pôn.

Ngầm Thà Khống là 1 trọng điểm trên tuyến vận tải đường 559/ đường Trường Sơn/ đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ.


Thứ Hai, 10 tháng 2, 2020

[7.28] Không ảnh (16): Khu vực trọng điểm ném bom ngầm Xê Sụ (Lào) trên tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn/ đường 559/ đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ

20200210

Khu vực trọng điểm ném bom ngầm Xê Sụ (Lào) trên tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn/ đường 559/ đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ.

Nơi đây tuyến đường vận tải vượt qua con sông Xê Sụ - nam Lào, để đi đến chiến trường Tây Nguyên (hướng đông) và qua Đông bắc Campuchia (hướng tây).

Các vết trắng là dấu vết hố bom. Vệt trắng như sợi chỉ dài là con đường vận tải.



Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2020

[7.27] Không ảnh (15): Khu vực bản Pa kha (Lào) trên tuyến đường vận tải Trường Sơn/ đường 559/ đường mòn Hồ Chí Minh, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

20200209

Khu vực bản Pa kha (Lào) trên tuyến đường vận tải Trường Sơn/ đường 559/ đường mòn Hồ Chí Minh, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Khu vực này trên đất Lào, gần với vùng ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia.

Đây cũng là khu vực tập hợp lực lượng các đoàn quân chi viện vào chiến trường, phân chia quân số và hậu cần về các chiến trường.

Các điểm trắng/ vệt trắng là dấu tích hố bom.


Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2020

[7.27] Không ảnh (14): Khu vực đóng quân của Bệnh viện 211 Mặt trận B3 Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ

20200208

Ẩn dưới những tán rừng này là khu vực đóng quân của Bệnh viện 211 Mặt trận B3 Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ.

Bệnh viện 211 là bệnh viện trung tâm/ bệnh viện tuyến cuối trong hệ thống quân y của Mặt trận B3 Tây Nguyên.


[7.26] Không ảnh (13): Thành phố Pleiku (tỉnh Gia Lai), năm 1967

20200208

Không ảnh thành phố Pleiku (tỉnh Gia Lai), năm 1967. Sân bay Pleiku ở trung tâm bức ảnh.


Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2020

[7.25] Không ảnh (12) - Địa danh (42): Không ảnh khu vực hồ Le (tỉnh Kontum) tháng 3/1967, nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt của Trung đoàn 88 Mặt trận B3 Tây Nguyên, tháng 11/1966.

20200207

Không ảnh khu vực hồ Le (tỉnh Kontum) tháng 3/1967, nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt của Trung đoàn 88 Mặt trận B3 Tây Nguyên, tháng 11/1966.

Ghi chú: Các vết trắng là dấu vết hố bom/ đạn pháo.


[7.24] Không ảnh (11): Khu vực cầu Lệch (tỉnh Kontum) tháng 3/1967, nơi diễn ra các trận đánh ác liêt của Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 Quân đoàn 3 Mặt trận Tây Nguyên, tháng 11/1966

20200207

Khu vực cầu Lệch (tỉnh Kontum) tháng 3/1967, nơi diễn ra các trận đánh ác liêt của Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 Quân đoàn 3 Mặt trận Tây Nguyên, tháng 11/1966.

Chú thích: Các điểm trắng là dấu vết hố bom.