Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

[2.64] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về tiểu đoàn 6 đặc công Tỉnh U1 - Quân khu 7

2026020860092.50

SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA QUÂN ĐỘI MỸ VỀ TIỂU ĐOÀN 6 ĐẶC CÔNG THUỘC TỈNH U-1 - QUÂN KHU 7

1. Tổng quan

Đầu năm 1969, Quân đội Mỹ đã ghi nhận sự hiện diện của Tiểu đoàn 6 Đặc công tại Quân khu 7.

2. Lịch sử

a. Ngày 12/3/68, Tiểu đoàn 4, Lữ đoàn 305 Đặc công, Quân khu 3, tại huyện Chương Mỹ, được đổi tên thành Đoàn Chi viện 2019 và bắt đầu hành quân vào Miền Nam Việt Nam. Đoàn đến tỉnh Tây Ninh vào ngày 10/7/68 và tại thời điểm đó được đổi tên thành Tiểu đoàn 6, Phòng 16 Đặc công Miền.

b. Vào cuối tháng 6/68, tiểu đoàn chia thành 3 bộ phận:

(1) Bộ phận 1, gồm các Đại đội H15 và H16, di chuyển vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

(2) Bộ phận 2, gồm các Đại đội H17 và H18, di chuyển đến hoạt động tại chiến trường BIÊN HÒA thuộc Quân khu 7, phía Đông Nam TRẢNG BOM.

(3) Đại đội H19 của Tiểu đoàn 6 được điều về một tiểu đoàn chưa rõ tên thuộc Phòng 16 Đặc công Miền.

c. Có thông tin cho thấy Đại đội C62 của Tiểu đoàn 6 ở lại Tây Ninh cho đến ngày 19/2/69, sau đó di chuyển đến LONG BÌNH, trên đường đi chỉ nghỉ 4 giờ mỗi ngày; ngày 22/11/68, Đại đội 62 nhận lệnh di chuyển đến BIÊN HÒA và được điều về Quân khu 7, Tiểu đoàn 6 đến khu vực SUỐI NHAN vào cuối tháng 12/68. Như vậy, có vẻ như trong khoảng thời gian từ tháng 12/68 đến tháng 2/69, Tiểu đoàn 6 Đặc công đã di chuyển vào Quân khu 7.

d. Đầu tháng 4/69, theo lệnh của Quân khu 7, Tiểu đoàn 6 Đặc công trở thành đơn vị trực thuộc Tỉnh U-1. Gần đây có một số thông tin về Tiểu đoàn 3 của Tỉnh U-1, có thể đây là một tên gọi khác của Tiểu đoàn 6 Đặc công.

e. Tiểu đoàn 6 đã được xác nhận qua 2 lần giao tranh. Một lần vào ngày 27/2, khi khoảng 25 bộ đội của Đại đội C62 đụng độ với bộ binh và trực thăng vũ trang Hoa Kỳ; và vào ngày 5/6 khi Đại đội C62 phối hợp với Tiểu đoàn D2 Đặc công tấn công một vị trí đóng quân đêm của Tiểu đoàn 11 dù SG.

3. Tổ chức và Quân số

a. Tiểu đoàn 6 hiện gồm 3 đại đội: C62, C64 và C66, quân số của Tiểu đoàn 6 như sau: 131 người (tháng 11/68); 129 người (tháng 12/68); 133 người (tháng 1/69); 93 người (không tính C64) vào tháng 2 và tháng 3/69. Thông tin tháng 7/69, quân số của tiểu đoàn khoảng 80 người, bao gồm cả Đại đội C64.

b. Ban chỉ huy tiểu đoàn tính đến tháng 7/69 gồm: Tiểu đoàn trưởng: KEN; Tiểu đoàn phó: YÊN; Chính ủy: HẰNG; Phó Chính trị viên 1: ĐỊNH; Phó Chính trị viên 2: CHƯƠNG; Sỹ quan Tham mưu và Quân y: HÒA.

c. Chỉ huy các đại đội:

Chức vụ

Đại đội C62

Đại đội C64

Đại đội C66

Đại đội trưởng

THẮM

ĐÔNG

KHÔI

Đại đội phó

HOẠT

TUYẾT

HÒA

Chính trị viên

ĐỨC

MÔN

BÔI

Chính trị viên phó

ĐOÀN

CỬU

ĐÀO

Quân y

VÂN

CHIẾU

Quản lý

TƯƠNG / PHÚC

PHÚC

TRIỀU

4. Các hoạt động khác

a. Tháng 11/68, Tiểu đoàn D6 phối hợp với một đơn vị chưa rõ tên tấn công sân bay BÀ CHIÊM.

b. Tháng 1/69, tiểu đoàn phối hợp với lực lượng địa phương huyện TRẢNG BOM tấn công ấp NÔNG.

c. Ngày 22/2/69, tiểu đoàn chia thành 2 bộ phận. Đại đội C64 tấn công Trại tù binh BIÊN HÒA. Các đại đội C62 và C66, cùng với Tiểu đoàn 2 Đặc công thuộc Tỉnh U-1, tấn công kho xăng dầu LONG BÌNH. Mỗi người thuộc đơn vị C62 mang theo 35 khối thuốc nổ cho mục đích này. Mục tiêu thứ yếu của họ là bãi đáp trực thăng ở khu vực phía Đông Bắc của Tổng kho LONG BÌNH.

d. Đêm ngày 6/6/69, Tiểu đoàn D6 tấn công căn cứ của Tiểu đoàn 11 dù SG tại khu vực THIỆN TÂN. Căn cứ này đã được nghiên cứu qua sa bàn vào tháng 4/69. Các nhiệm vụ được phân công như sau với sự hỗ trợ của 7 rocket 107mm:

(1) C62 tấn công từ phía Tây Bắc, phá hủy 2 trong số 4 vị trí pháo và các dãy nhà lính.

(2) C64 tấn công từ phía Đông.

(3) C66 bắn 5 tên lửa 107mm vào mục tiêu để bắt đầu cuộc tấn công. Vào ngày 5/6, Tiểu đoàn D6 di chuyển qua sông RẠCH ĐÔNG thành 2 bộ phận. Sau khi chiếm lĩnh vị trí chiến đấu lúc 00:00 ngày 6/6, tiểu đoàn chờ sự hỗ trợ hỏa lực từ C66. Tuy nhiên, C66 đã không đến và trận đánh bắt đầu mà không có hỏa lực hỗ trợ. Sau 15 phút giao tranh ác liệt, Tiểu đoàn D6 buộc phải rút lui do pháo binh và không kích hạng nặng của đối phương. Kết quả, 2 thành viên tiểu đoàn tử trận và 2 người bị thương.

5. Nhiệm vụ

Quân Mỹ cho rằng Tiểu đoàn 6 Đặc công có nhiệm vụ thực hiện các cuộc tấn công và tấn công hỏa lực tại khu vực BIÊN HÒA, phối hợp chặt chẽ với các Tiểu đoàn Đặc công D1 và D2 của Tỉnh U-1. 

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

[2.63] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về các đơn vị đặc công Quân Giải phóng miền Nam trên chiến trường miền đông Nam Bộ

2026020626089.60

SƠ LƯỢC THÔNG TIN VỀ CÁC ĐƠN VỊ ĐẶC CÔNG MIỀN TẠI MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

 

1. Tại Vùng III chiến thuật, việc sử dụng các đơn vị đặc công đã gia tăng do kết quả từ hiệu quả tổng thể của chúng với tổn thất nhân sự tối thiểu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nói: "Bất kể quân đội Mỹ hay quân đội SG được phòng thủ mạnh đến đâu, chúng đều có thể bị tiêu diệt bởi những đội quân tinh nhuệ và đặc biệt của ta với chiến thuật tác chiến đặc biệt." Đặc công là một lực lượng tinh nhuệ bao gồm chủ yếu là những người tình nguyện, những người nhận được sự huấn luyện đặc biệt và bồi dưỡng chính trị. Huấn luyện đặc công thường kéo dài ở 2 tháng cuối nhưng các đợt bồi dưỡng định kỳ tiếp tục được thực hiện tại các Căn cứ của Phân khu ở ngoài nước, chẳng hạn như ở Ba Thu. Nội dung huấn luyện bao gồm các khóa học về phá hủy các loại mục tiêu như xe cộ, cơ sở hạ tầng, công trình và pháo, vũ khí, rocket. Nó nhấn mạnh 5 nguyên tắc đặc công: Lập kế hoạch chi tiết và trinh sát; Bí mật và bất ngờ; Tốc độ; Chủ động và Linh hoạt.

2. Bộ Tham mưu Quân giải phóng miền Nam đã đưa ra các nhận xét sau về chiến thuật đặc công:

    a. Chiến thuật đặc công là một phương pháp chiến đấu đã được tổ tiên ta áp dụng trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Nó cũng là phương pháp chiến đấu của một dân tộc có lực lượng nhỏ nhưng ý chí bất khuất. Họ chiến đấu bằng sự dũng cảm, thông minh và quyết tâm chống lại bất kỳ lực lượng quân xâm lược nào mạnh hơn về trang bị và quân số. Đây là phương pháp chiến đấu của tổ tiên ta và của người dân Việt Nam, những người đầu tiên nghĩ ra và áp dụng phương pháp chiến đấu này.

    b. Chiến thuật đặc công phản ánh phương pháp chiến đấu linh hoạt và khéo léo trong chính sách quân sự của Đảng. Đó cũng là sự tiến bộ của chiến tranh nhân dân và của Đảng ta. Sự tiến bộ trong chính sách quân sự khoa học của học thuyết MARX, LENIN đã đóng góp vào kinh nghiệm quân sự của quân đội và nhân dân ta, những người đang đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược.    

    c. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng đặc công đã trở nên dũng cảm, trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Chiến thuật đặc công sẽ trở thành chiến thuật quen thuộc của quân đội ta và được áp dụng rộng rãi bởi 3 thứ quân trên tất cả các chiến trường: rừng núi, đồng bằng, ven biển, nông thôn và thành thị. Lực lượng đặc công sẽ trở thành lực lượng tin cậy nhất của Đảng ta. Chúng sẽ khiến bọn đế quốc và tay sai khiếp sợ (Bộ Tham mưu ghi nhận nguồn gốc và sự phát triển của đơn vị đặc công là nhờ Đảng, chính phủ và Chủ tịch HỒ CHÍ MINH trong cuộc đấu tranh cách mạng sớm của họ, có lẽ là chống lại thực dân Pháp).

3. Việc triển khai và sử dụng các đơn vị đặc công không được tiêu chuẩn hóa. Tổ chức và trang bị của các đơn vị này được điều chỉnh cho phù hợp với nhiệm vụ cụ thể. Ví dụ, một số đơn vị đặc công nhất định được huấn luyện, trang bị đặc biệt và sử dụng cho vai trò phá hủy dưới nước. Các nhiệm vụ đặc công thường rơi vào 2 loại riêng biệt: Loại thứ nhất liên quan đến việc đột kích các cơ sở, tiến hành hoạt động phá hoại và thực hiện phá hủy các mục tiêu then chốt như cầu đường, nhà máy điện, bến cảng, v.v. Loại thứ hai hỗ trợ các đợt tấn công của bộ binh bằng cách mở cửa mở qua các vành đai phòng thủ và lô cốt. Đơn vị đặc công thực hiện nhiệm vụ sau này thường được giao nhiệm vụ vô hiệu hóa một lối đi xuyên qua rào cản phòng thủ bằng cách sử dụng bộc phá ống để xuyên qua hàng rào dây thép gai, sau đó đặt bộc phá khối đánh vào các vị trí kiên cố. Điều này sẽ dọn đường cho bộ binh tràn lên đánh chiếm vị trí.

    Đôi khi 2 nhiệm vụ này được kết hợp. Đặc công xâm nhập vào cơ sở trong khi bộ binh cố gắng đánh chiếm vị trí, hoặc pháo cối yểm trợ cho sự di chuyển của đặc công; họ sử dụng bộc phá khối để phá hủy các mục tiêu chính như máy bay, sở chỉ huy hoặc các tòa nhà then chốt khác, khu vực lưu trữ xăng dầu và kho đạn. Ví dụ về loại tấn công này là các cuộc tấn công vào căn cứ Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ tại CỦ CHI và DẦU TIẾNG. Những thiệt hại nặng nề đối với máy bay, các tòa nhà và các điểm xăng dầu đã được thực hiện ở đó bởi các tổ đặc công. Các đội thủy đặc công sẽ cố gắng đánh sập các cây cầu trên khắp Phân khu 1 và Phân khu 4, với trọng tâm đặc biệt là cầu PHÚ CƯỜNG và cầu Tân Cảng để cắt đứt các đơn vị đồng minh tiếp viện.

4. Tại Vùng III chiến thuật có 20 tiểu đoàn đặc công chủ lực, 5 trong số đó trực thuộc Phòng Thiết giáp 16 Miền. Mỗi sư đoàn trong số 4 sư đoàn chủ lực MIền thì có 1 đơn vị đặc công. Phòng Thiết giáp 16 cũng có 3 đại đội đặc công trực thuộc và mỗi trung đoàn chủ lực có một đại đội đặc công trực thuộc. Các phân khu và các huyện cũng có khả năng đặc công địa phương vốn có. Ngoài nhiệm vụ phòng thủ khu vực được gọi là chiến khu "C", Phòng Thiết giáp 16 của Miền (thường được ký hiệu là A, B, J, v.v.) cũng có trách nhiệm điều hành chung chương trình huấn luyện đặc công và cung cấp các thành tố đặc công cho các đơn vị và cơ quan hoạt động trên khắp Vùng III chiến thuật. Ban đầu chỉ gồm 5 tiểu đoàn đặc công và 3 đại đội đặc công, nhưng sự gia tăng tầm quan trọng chiến lược đối với kẻ thù đã tạo ra nhu cầu lớn hơn về các đơn vị đặc công. Hiện đang hoạt động từ trụ sở chính tại KATUM ở chiến khu "C", có những dấu hiệu cho thấy Phòng Thiết giáp đã huấn luyện được 8 tiểu đoàn để hoạt động tại Vùng III chiến thuật.

a. Các tài liệu thu được trong đợt Tổng tấn công TẾT 68 cho thấy Tiểu đoàn 1, D16 Phòng Thiết giáp Miền là một đơn vị tham gia. Người ta tin rằng sau TẾT, đơn vị này đã được điều về Phân khu 1 và Phân khu 2 để hình thành hạt nhân của các Tiểu đoàn đặc công 604 và D12.

b. Tiểu đoàn đặc công 2, Phòng Thiết giáp 16 của COSVN lần đầu tiên được xác định qua các tài liệu vào tháng 10/67 tại khu vực DẦU TIẾNG. Các tài liệu phát hiện ngày 8/2/68 cho thấy Tiểu đoàn đặc công D2 đã di chuyển từ khu vực DẦU TIẾNG vào tháng 10/67 để tham gia trận đánh sân bay BIÊN HÒA trong đợt tấn công TẾT 68. Tù binh từ Tiểu đoàn đặc công D2 địa phương của tỉnh U-1 cho biết hạt nhân đơn vị của họ đến từ Tiểu đoàn đặc công D2, Phòng Thiết giáp 16 Miền, đơn vị đã gần như bị thiệt hại nặng trong đợt tấn công TẾT 68.

c. Tiểu đoàn đặc công 3, Phòng Thiết giáp 16 Miền được xác định trong các cuộc tấn công ngày 26/9/68 tại KATUM và là lực lượng tấn công chính trong cuộc tấn công ngày 26/2/69 tại CỦ CHI. Quân số khoảng 300 người, Tiểu đoàn 3 hoạt động từ một khu vực căn cứ ở Mật khu LONG NGUYÊN. Ngày 17/5/69 có thông tin cho thấy Tiểu đoàn 3 chuẩn bị tham gia tấn công PHƯỚC VĨNH, tuy nhiên nó nhận được lệnh rút lui.

d. Thông tin ngày 25/9/68 đã xác định đơn vị Tiểu đoàn đặc công độc lập số 4 của Miền hoạt động tại khu vực KATUM-BÀ CHIÊM. Thông tin ngày 17/5 cho biết Tiểu đoàn đặc công 4 của Miền chuẩn bị tham gia cuộc tấn công ngày 11/5 vào PHƯỚC VĨNH.

e. Tiểu đoàn đặc công 5 Miền đã được xác định chắc chắn trong các cuộc tấn công tại KATUM ngày 26/9/68 và 23/2/69 tại DẦU TIẾNG. Tiểu đoàn này có quân số khoảng 400 người, thường đóng tại khu vực KATUM, tuy nhiên nó đã di chuyển đến khu vực BÀ CHIÊM trong chiến khu "C" để chuẩn bị cho các cuộc tấn công.

f. Có những dấu hiệu cho thấy Tiểu đoàn đặc công 6, Phòng Thiết giáp 16, hiện là Tiểu đoàn đặc công 6 trực thuộc Quân khu 7. Các tài liệu cho thấy việc chuyển giao nhân sự đã đưa Tiểu đoàn 6 về trực thuộc QK7. Quân số hiện tại của đơn vị khoảng 130 người và nhiệm vụ của nó là đánh phá các tuyến đường giao thông dọc theo Đường 25 giữa XUÂN LỘC và LONG BÌNH.

g. Rất ít thông tin được biết về Tiểu đoàn đặc công 7, Phòng Thiết giáp 16. Dấu hiệu duy nhất về sự tồn tại của nó là ngày 17/5 liên quan đến việc nó dự kiến tham gia vào một cuộc tấn công vào PHƯỚC VĨNH. Trước cuộc tấn công, nó được lệnh rút lui cùng Tiểu đoàn đặc công 3 để chấn chỉnh lực lượng.

h. Tiểu đoàn đặc công 8, Phòng Thiết giáp 16 Miền được xác định bởi cuộc tấn công ngày 26/2/69 tại CỦ CHI. Đơn vị gồm khoảng 250 người và hoạt động tại khu vực Thành phố TÂY NINH - NÚI BÀ ĐEN trước khi tấn công CỦ CHI. Hiện tại Tiểu đoàn đặc công 8 có lẽ nằm ở phía Bắc NÚI BÀ ĐEN.

5. Tóm tắt về tất cả các đơn vị đặc công lớn hoạt động tại Vùng III chiến thuật

a. Sư đoàn 1

Do mới di chuyển đến Vùng III chiến thuật nên có ít thông tin về các đơn vị phụ thuộc của Sư đoàn 1 tại Vùng này.

Vào ngày 12/5 tại Căn cứ GRANT, Tiểu đoàn đặc công K28 Sư đoàn 1, đã được sử dụng trong nỗ lực đánh chiếm Căn cứ này. Tiểu đoàn đặc công được sử dụng vì tin rằng nó có thể làm tốt hơn một đơn vị bộ binh. Mỗi trung đoàn trong 3 trung đoàn của Sư đoàn 1 đều có một đại đội đặc công.

Quân số của Tiểu đoàn đặc công K28 là 210 người, chia thành 2 đại đội,với các loại vũ khí có: súng cối 2x61mm, 8 súng B-40, 8 súng B-41, bộc phá ống, mìn chống tăng và thuốc nổ TNT. Mặc dù ít thông tin về các đại đội đặc công trực thuộc các trung đoàn, nhưng tin rằng mỗi đơn vị này mang phiên hiệu C20. Ngoại trừ trận đánh tại LZ GRANT ngày 12/5, Sư đoàn 1 đã dựa vào các trận pháo cối hạng nặng trước khi tấn công vào các cơ sở của đồng minh. Rất ít kỹ thuật đặc công được các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 sử dụng tại đây, mặc dù việc sử dụng các đơn vị đặc công có thể sẽ gia tăng trong tương lai.

b. Sư đoàn 7

 Theo thông tin nhận được vào tháng 6/68, các đại đội đặc công và trinh sát của Sư đoàn 7 đã được kết hợp thành 1 tiểu đoàn với phiên hiệu là Tiểu đoàn 95 Đặc công/Trinh sát. Quân số đơn vị là 300 người chia thành 1 sở chỉ huy tiểu đoàn và 2 đại đội. Vũ khí bao gồm: súng B-40, B-41, AK-47, K-54, TNT và mìn.

Hiện tại cả 3 trung đoàn của Sư đoàn 7 đều có các đại đội đặc công trực thuộc, mỗi đại đội dùng phiên hiệu C25. Quân số ước tính của mỗi đại đội là 120 người.

Các đại đội đặc công/trinh sát được duy trì ở mức quân số đầy đủ vì nhu cầu trinh sát cho các đơn vị bộ binh. Tuy nhiên, điều này có lẽ đề cập đến việc sử dụng họ như lực lượng trinh sát thay vì lực lượng đặc công. Vũ khí bao gồm mìn các loại, TNT, súng K-54, AK-47, B-40, B-41, mìn claymore và lựu đạn. Nhiệm vụ là phá hoại các căn cứ, cơ quan của quân SG, gài mìn phá hoại cầu cống, quốc lộ. Có rất ít sự giao chiến với các đại đội này trong năm qua. Lý do là loại hình hành quân của Sư đoàn 7 trong giai đoạn đó: Phần lớn Sư đoàn 7 đóng vai trò an ninh, cố gắng giữ quyền kiểm soát các vùng lãnh thổ do địch chiếm đóng ở phần phía Bắc của Vùng III chiến thuật.

c. Sư đoàn 9

Đơn vị đặc công trực thuộc Sư đoàn 9 VC được biết đến là Đại đội T95 Đặc công/Trinh sát từ đầu năm 1963 đến tháng 11/68. Vào thời điểm đó, Đại đội T95 được nâng cấp thành tiểu đoàn và đổi tên thành Tiểu đoàn T28 Đặc công/Trinh sát, Sư đoàn 9 VC. Tiểu đoàn đã tiến hành nhiều hoạt động phối hợp với các đơn vị khác của Sư đoàn 9 và các đơn vị địa phương dọc theo biên giới TÂY NINH/Campuchia vào cuối năm 1968.

Tiểu đoàn T28 đã di chuyển đến khu vực Mỏ vẹt cùng Trung đoàn 272 vào cuối tháng 1/69. Đơn vị đã tiến hành các nhiệm vụ trinh sát dọc theo các tuyến đường tiếp cận PHÂN KHU 1 và PHÂN KHU 2 vào SÀI GÒN trong những tháng tiếp theo và dường như đã được giao nhiệm vụ mũi nhọn tấn công thủ đô. Nhưng vì Trung đoàn 272 bị tổn thất nặng nề trong đợt Tổng tấn công sau TẾT, nhiệm vụ này đã bị hủy bỏ.

Các thành phần của Tiểu đoàn T28 được tin là đã di chuyển lên phía Bắc cùng Trung đoàn 272 vào tháng 4/69, đóng tại phía Tây Bắc Thành phố TÂY NINH. Vào ngày 16/5/69 đã xác định được Tiểu đoàn T28 chuẩn bị tấn công một căn cứ hỏa lực của Mỹ vào một ngày chưa xác định.

Tiểu đoàn T28 có quân số ước tính là 250 người. Đơn vị gồm 3 đại đội, các đại đội này được tách ra trong các giai đoạn hoạt động tấn công để hỗ trợ cho 3 trung đoàn bộ binh của sư đoàn. Vì Sư đoàn 9 phân tán rộng từ Tây Bắc Thành phố TÂY NINH đến tận phía Nam Mỏ Vẹt (PARROT'S BEAK), các thành phần trinh sát từ Tiểu đoàn T28 có thể sẽ hoạt động trên khắp khu vực đó.

d. Ngày 27/3/68 cho thấy dấu hiệu của Tiểu đoàn đặc công GIA ĐỊNH 4 được hình thành vào khoảng tháng 12/67. Tài liệu tiết lộ quân số tiểu đoàn tổng cộng là 252 người, tổ chức thành 1 bộ chỉ huy tiểu đoàn gồm 28 người, 2 đại đội đặc công mỗi đại đội 66 người và 2 đại đội thiết giáp mỗi đại đội 46 người, 3 trung đội xung kích mỗi trung đội 14 người và 1 trung đội hỏa lực trợ chiến cũng 14 người. Mỗi đại đội "thiết giáp" được tổ chức thành 3 trung đội 12 người. Tiểu đoàn được trang bị các loại vũ khí: 141 khẩu AK-47 với 300-350 viên đạn cơ bản; 32 khẩu B-40 với 10 viên đạn cơ bản; 32 khẩu B-41 với 10 viên đạn cơ bản; 74 khẩu súng ngắn K-54 với 50 viên đạn cơ bản và 4 khẩu súng cối 60mm với 50 viên đạn cơ bản. Ngoài ra, mỗi người mang theo 3 lựu đạn và 1 khối thuốc nổ định hình 2kg C4. Tiểu đoàn GIA ĐỊNH 4 được phát hiện lần cuối vào ngày 26/5.

Đơn vị đặc công này trực thuộc và hoạt động trên khắp PHÂN KHU 1, phối hợp tấn công với các đơn vị khác của PHÂN KHU 1 và nhiều đơn vị địa phương trong khu vực hoạt động. Hiện tại, Tiểu đoàn đặc công GIA ĐỊNH 4 đang phân tán ở phía Bắc HÓC MÔN với quân số ước tính là 225 người.

e. Có rất ít thông tin liên quan đến Tiểu đoàn 12 Đặc công/Trinh sát. Dấu hiệu đầu tiên về sự hiện diện của đơn vị là vào cuối tháng 2/68 khi các tài liệu thu được liệt kê D12 trong số các đơn vị của PHÂN KHU 2. Kể từ thời điểm đó, Tiểu đoàn được tin là phân tán rộng rãi ở PHÂN KHU 2 với nhiệm vụ hỗ trợ đặc công cho các đơn vị PHÂN KHU 2, hỗ trợ trinh sát cho PHÂN KHU bởi các thành phần của Sư đoàn 9 và bắn hỏa tiễn vào sân bay TÂN SƠN NHẤT.

f. Tiểu đoàn đặc công 252 gồm 280 nhân sự bắt đầu huấn luyện tại một trường đặc công ở làng THANH BÌNH, huyện CHƯƠNG MỸ, tỉnh SƠN TÂY, miền Bắc Việt Nam vào tháng 5/67, kéo dài đến cuối tháng 10/67 thì tiểu đoàn bắt đầu chi viện vào miền Nam bằng xe tải. Tiểu đoàn xuống xe tại tỉnh NGHỆ AN, miền Bắc Việt Nam và tiếp tục hành quân bộ. Tiểu đoàn dường như đã đến BA THU, Campuchia vào cuối hè năm 68, sau đó đến huyện CẦN ĐƯỚC, tỉnh LONG AN vào đầu mùa thu. Tiểu đoàn được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 211 vào đầu tháng 9/68 và được giao cho Phân khu 3. 4 đại đội của tiểu đoàn được tăng cường cho các đơn vị khác nhau của Phân khu 3 để hỗ trợ đặc công. Ngày 11/5/69, có thông tin tiểu đoàn có nhiệm vụ đánh sập cầu TÂN AN và BẾN LỨC.

g. Trung đoàn 1, trực thuộc Miền và hoạt động tại Phân khu 3, có 10 đại đội trợ chiến. Mặc dù chưa xác định được đại đội đặc công trực thuộc trung đoàn, nhưng trung đoàn được tin là có một đại đội đặc công tăng cường cho một hoặc nhiều tiểu đoàn bộ binh của trung đoàn.

h. Rất ít thông tin về Tiểu đoàn 8 Đặc công thủy của Phân khu 4. Nó có quân số ước tính là 70 người và nhiệm vụ hiện tại là đánh phá tàu thuyền ở khu vực THỦ ĐỨC và Phân khu 4.

i. Đơn vị Đặc nhiệm của PHÂN KHU 5 được tin là được thành lập vào tháng 4/68. Ban đầu nhân sự được rút ra từ các đơn vị khác của PHÂN KHU 5 và sau đó được huấn luyện thành đặc công. Ba lĩnh vực cụ thể được nhấn mạnh trong huấn luyện của họ: Xâm nhập các cơ sở kiên cố, tấn công đa hướng vào một mục tiêu và phá hoại. Đơn vị Biệt động của PHÂN KHU 5 có lẽ hoạt động độc lập và hỗ trợ cho Trung đoàn ĐỒNG NAI. Đơn vị được tin là có quân số khoảng 75 người và có nhiệm vụ tấn công các cơ sở cố định ở PHÂN KHU 5.

j. Thông tin ngày 2/3/69 cho biết Tiểu đoàn D21 Đặc công/Trinh sát, Sư đoàn 5, chỉ thực hiện các cuộc tấn công vào các mục tiêu quân sự quan trọng. Quy trình tác chiến tiêu chuẩn liên quan đến việc xác định mục tiêu bao gồm việc D21 thực hiện trinh sát mục tiêu dự kiến. Một báo cáo sau đó được đệ trình lên sở chỉ huy sư đoàn 5 với đánh giá về tầm quan trọng của mục tiêu. Nếu Bộ chỉ huy sư đoàn quyết định mục tiêu không thiết yếu, nhiệm vụ sẽ được giao cho một đại đội bộ binh hoặc không tấn công. Tiểu đoàn D21 nhận được những nhiệm vụ quan trọng nhất vì họ được coi là đơn vị được trang bị tốt nhất và huấn luyện kỹ nhất trong Sư đoàn 5. Tiểu đoàn D21 có quân số khoảng 110 người và giao chiến lần cuối trong cuộc tấn công ngày 18/5 vào XUÂN LỘC. Mục tiêu truyền thống của D21 là tổ hợp LONG BÌNH - BIÊN HÒA.

k. Lịch sử của các bộ phận Biệt động PHÂN KHU 6 có thể bắt nguồn từ thời điểm Quân khu 4 tồn tại khi Đơn vị biêt động C10 hoạt động tại Sài Gòn. Khi các Phân khu ra đời vào tháng 10/67, đơn vị C10 gồm các Tổ có 15 thành viên được ký hiệu J4, J5, J6, J8 và J12 được giao cho PHÂN KHU 6. Các Tổ J6 và J8 được kết hợp để tạo thành B8, và J12 được đặt bí danh B12. Sau Tết 68, tất cả các đơn vị ký hiệu "J" đều bị "thiệt hại nặng" (chỉ còn lại B8 và B12). Số người còn lại sau đó được gửi đến BA THU để huấn luyện và được tái lập thành các bộ phận 3-4-5, 6-7-9 và 1-2-8. Những thành phần này sau đó được sử dụng trong đợt Tổng tấn công tháng 5. Sau đợt tấn công tháng 5, các đơn vị một lần nữa quay trở lại BA THU và được hình thành thành 5 đơn vị mới ký hiệu là 1, 2, 3, 5 và 6 Biệt động. Thông tin nhận được cho thấy chỉ có Đơn vị Biệt động 1 và 2 là có nhân sự với lần lượt 70 và 60 người, trong khi 3 đơn vị còn lại dường như chưa có quân số. Ngày 14/5/69, thông tin cho thấy các đơn vị đã được giao phiên hiệu mới từ N10 đến N16. Với thông tin bổ sung, có vẻ như hiện có 7 Tiểu đoàn biệt động trong thành phố. Các mục tiêu truyền thống bao gồm Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ chỉ huy quân SG, Khám CHÍ HÒA, các Ty Cảnh sát, các cơ sở trọng yếu của GVN, nhân sự tổ chức Phượng Hoàng.

l. Tiểu đoàn đặc công 67 (bí danh 525 Đặc công/Công binh) thuộc QK 7 được cử xuống từ Miền để hỗ trợ đặc công cho QK 7 trong đợt tấn công đông xuân vừa qua và trước đây trực thuộc Sư đoàn 5. Nhiệm vụ hiện tại của tiểu đoàn là đánh phá giao thông dọc theo Quốc lộ 1 và Đường 15. Quân số của Tiểu đoàn 67 là 125 người và vị trí hiện tại của nó có lẽ ở khu vực HÁT DỊCH.

m. Các tài liệu gần đây chỉ ra rằng ĐOÀN 10 đã thuộc quyền chỉ huy của QK 7. ĐOÀN 10 hiếm khi giao chiến hay nhận dạng và giới hạn hoạt động của mình chủ yếu là quấy phá tàu bè đồng minh ở RỪNG SÁT. Các nhiệm vụ bổ sung bao gồm tham gia các cuộc tấn công hỏa tiễn vào NHÀ BÈ, CÁT LÁI và SÀI GÒN. Quân số đơn vị ước tính khoảng 600 người phân tán khắp RỪNG SÁT.

n. Tiểu đoàn đặc công D1 của tỉnh VC U-1 thường xuyên không giao chiến trừ khi có các đợt tấn công lớn, khi đó nó thường được nhắm vào tổ hợp LONG BÌNH - BIÊN HÒA. Nó có quân số khoảng 180 người và có thể sở hữu khả năng phóng hỏa tiễn 107mm.

o. Tiểu đoàn đặc công D2 của tỉnh U-1 được coi là một tiểu đoàn yếu và nhìn chung ít khi lộ diện. Vào tháng 2/69, nó có nhiệm vụ tấn công Thành phố BIÊN HÒA nhưng không hoàn thành được mục tiêu.

p. Thông tin liên quan đến các đại đội đặc công của trung đoàn về cơ bản chỉ giới hạn ở sự tồn tại của họ. Nhiệm vụ của họ là hỗ trợ trung đoàn mẹ. Các đại đội sau đây hoạt động trong các khu vực được ghi chú: B19 (21) Đại đội đặc công/Trung đoàn 275 - Chiến khu "D"; C25 Đại đội đặc công/Trung đoàn 95 - Tỉnh U-1; C19 Đại đội đặc công/Trung đoàn 174 - Tỉnh BA BIEN; C19 Đại đội đặc công/Trung đoàn 33 - Tỉnh BA BIEN và C21 Đại đội đặc công/Trung đoàn 274 - PHÂN KHU 4.


Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

[2.62] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về Ban trinh sát kỹ thuật thuộc Bộ tư lệnh Quân khu 7

20260130490111.51

BAN TRINH SÁT KỸ THUẬT THUỘC BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 7

1. Tổ chức và Nhân sự

Dựa trên thông tin cung cấp bởi một hồi chánhvào ngày 6 tháng 4 về đơn vị cũ là Ban Trinh sát Kỹ thuật thuộc H4, T-7 (tức Quân khu 7). Ban Trinh sát Kỹ thuật bao gồm một bộ phận chỉ huy hỗn hợp và một bộ phận hành chính, với 2 Tổ trực thuộc:

  • Tổ Sóng ngắn (HF): Chuyên đánh chặn mã Morse (CW).
  • Tổ Sóng cực ngắn (UHF): Chuyên đánh chặn liên lạc thoại (vô tuyến điện thoại).

Cơ cấu nhân sự:

  • Ban Chỉ huy: Gồm 1 Trưởng ban, 1 Phó ban và 1 Sĩ quan tham mưu.
  • Bộ phận hành chính: Từ 16 đến 18 người, bao gồm một tổ vận tải và hậu cần khoảng 5 người.
  • Tổ Sóng cực ngắn: Gồm 16 nhân viên (1 tổ trưởng, 1 tổ phó và 14 báo vụ viên).
  • Tổ Sóng ngắn: Gồm khoảng 12 nhân viên (1 tổ trưởng, 1 tổ phó và 10 báo vụ viên).

2. Nhiệm vụ

Nhiệm vụ của Ban Trinh sát Kỹ thuật là đánh chặn các tín hiệu truyền tin bằng giọng nói và mã Morse của Mỹ, Úc và quân SG, sau đó chuyển tiếp tin tức tình báo về Bộ Tư lệnh T-7.

3. Trang bị và Hoạt động

  • Thiết bị: Tổ Sóng cực ngắn được trang bị 4 máy thu phát PRC-25 của Mỹ và các loại ăng-ten lá lúa, ăng-ten dây dài cùng bản đồ do Trung Quốc in. Tổ Sóng ngắn có 6 máy thu hiệu PHILLIPS (loại thương mại 4 băng tần của Hà Lan). Hồi chánh cho biết các máy PRC-25 và Phillips đều được mua từ Campuchia.
  • Mục tiêu: Thu thập tình báo về hoạt động của đối phương, đặc biệt là các đợt không kích và pháo kích sắp diễn ra bằng cách đánh chặn liên lạc thoại.
  • Vị trí: Làm việc trong các hầm ngầm gần Bộ Tư lệnh T-7.
  • Nhân lực: Có 6 thông dịch viên tiếng Anh đảm nhiệm 2 máy PRC-25 và 8 nhân viên khác đảm nhiệm 2 máy còn lại. Thông thường, 2 tổ viên sẽ cùng trực một máy bằng cách sử dụng tai nghe đôi.

4. Quy trình xử lý tin

Khi một thông dịch viên đánh chặn được thông tin, người đó phải ghi chép lại toàn bộ nội dung, đặc biệt chú trọng các từ viết tắt quan trọng (ví dụ: "Alpha Sierra" cho không kích) và các tọa độ liên quan. Nếu bức điện có nội dung khẩn cấp, tổ trưởng hoặc tổ phó sẽ lập tức báo cáo về Bộ Tư lệnh T-7 để các đơn vị kịp thời sơ tán khỏi khu vực mục tiêu.

5. Phối hợp tác chiến

Đôi khi, các tổ trinh sát (mỗi tổ 2 tổ viên và 1 máy PRC-25) được phối thuộc cho các đơn vị chiến đấu cấp trung đoàn trở lên. Hồi chánh dẫn chứng đợt tấn công sau Tết 1969 vào Căn cứ Long Bình, 2 tổ trinh sát đã đi cùng bộ phận tiền phương của T-7. Các tổ này thường đặt thiết bị trong khu vực Sở chỉ huy, cách mục tiêu từ 4 đến 5 km.

6. Khả năng kỹ thuật

  • Tầm thu: Máy PRC-25 dùng ăng-ten dây dài có tầm thu khoảng 30 km; dùng ăng-ten lá lúa đạt khoảng 15 km.
  • Nguồn điện: Sử dụng pin đại nối tiếp, cho phép hoạt động từ 5 đến 9 ngày.
  • Hạn chế: Toàn bộ máy PRC-25 chỉ dùng để thu tin. Ban này không có khả năng gây nhiễu hoặc đánh lừa điện tử.

7. Trình độ chuyên môn

Hồi chánh đánh giá các thông dịch viên được đào tạo tại miền Bắc là rất tinh nhuệ. Cả tổ trưởng và tổ phó đều tốt nghiệp trường Trinh sát Kỹ thuật của miền Bắc. Cán bộ thẩm vấn nhận xét rằng hồi chánh có trình độ thông hiểu tiếng Anh cao dù bản thân anh ta tự nhận chỉ hiểu được 30-40%.

8. Huấn luyện và Mật danh

Trong thời gian tại đơn vị cho đến khi hồi chánh, cá nhân này được huấn luyện về đọc bản đồ, sử dụng máy PRC-25, các quy trình vô tuyến và mật danh. Một số mật danh được ghi nhận: 20, 30, 40, 50 là các căn cứ hỏa lực Úc; 95 là trung tâm điều phối hỏa lực; 29 (TONOME) là Bộ tư lệnh hành quân; 39-A là quan sát viên hàng không.

9. Đánh giá hiệu quả

Hồi chánh khẳng định Ban Trinh sát Kỹ thuật hoạt động rất hiệu quả cho Bộ tư lệnh T-7. Anh ta ước tính quân đội Úc đọc tọa độ trực tiếp (không mã hóa) tới 60% thời gian.

 

[2.61] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về tiểu đoàn 14 súng máy phòng không, Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam

2026013049110

Lược sử tiểu đoàn 14 súng máy phòng không, Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam

1. Tiểu đoàn H13 SMPK được tổ chức tại miền Bắc Việt Nam trong tháng 7/1965 nhằm mục đích chi viện hỏa lực phòng không cho các trung đoàn thuộc Sư đoàn 1. Đơn vị gồm 3 đại đội  mang số hiệu 1, 2 và 3. Việc huấn luyện kéo dài 2 tháng: Giai đoạn 1 huấn luyện sử dụng AK47, CKC, RPD và súng máy phòng không 12.7mm. Giai đoạn 2 huấn luyện chính trị, binh vận và cách phòng tránh tâm lý chiến.

2. Đơn vị dời miền Bắc vào tháng 9/1965 và chi viện vào miền Nam tháng 12/1965. Quá trình xâm nhập mất gần 25% quân số do bệnh tật. Đầu năm 1966, tiểu đoàn đóng tại khu vực biên giới Pleiku/Campuchia. 

Năm 1967, phiên hiệu tiểu đoàn H-13 SMPK đổi thành tiểu đoàn 14 SMPK. Cuối năm 1967, đơn vị giao chiến tại Đắk Tô rồi rút về phía Tây Nam sang Campuchia.

3. Cuối tháng 7/1968, Sư đoàn 1 di chuyển đến Đắk Lắk. Ngày 18/8, tấn công căn cứ biệt kích Đức Lập. Tiểu đoàn 14 SMPK thiết lập các vị trí súng máy 12.7mm quanh trại để ngăn chặn chi viện đường không.

4. Tháng 11/1968, tiến vào khu vực Lưỡi Câu. Ngày 14/11, 1 đại đội của tiểu đoàn 14 SMPK chi viện cho Trung đoàn 95C tại khu vực Căn cứ DOT để ngăn chặn trực thăng.

Trong cuộc tấn công vào Căn cứ GRANT (XT 3736) ngày 8/3/1969, các loại vũ khí SMPK được nhận diện gồm 4 đến 6 khẩu 12.7mm bố trí hình móng ngựa bao quanh vùng đổ quân.

Tại khu vực đồn điền Cầu Khởi ngày 28/3, tiểu đoàn 1 trung đoàn E95C, tiểu đoàn 13 Pháo binh và các thành phần của tiểu đoàn 14 SMPK phục kích đoàn xe. Đại đội SMPK có nhiệm vụ ngăn trực thăng tiếp viện. Cuộc giao tranh kéo dài 5 giờ với Sư đoàn 1 Không kỵ Mỹ. Một lá thư tìm thấy có ghi lại: Các đơn vị thuộc tiểu đoàn 14 SMPK được yêu cầu phải bắn hạ ít nhất 2 máy bay trong giai đoạn giữa năm 1968.

5. Tiểu đoàn 14 SMPK hiện hoạt động theo cấp tiểu đội khắp Chiến khu C để phòng thủ chống máy bay. Quân số ước tính khoảng 200 người.

6. Biên chế ước đoán

- Ban Chỉ huy Tiểu đoàn: 50 người.

- Đại đội 1: 50 người.

- Đại đội 2: 150 người.

 


Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

[3.404] Giấy khen của đc Nhâm Văn Khải, đơn vị đại đội 2 tiểu đoàn 4 trung đoàn 272 sư đoàn 9, quê Vĩnh Hòa - Vụ Bản - Nam Hà

20260129481160

1. Tháng 2/1968 quân Mỹ có thu giữ 2 Giấy khen của đc Nhâm Văn Khải, đơn vị đại đội 2 tiểu đoàn 4 trung đoàn 272 sư đoàn 9, quê Vĩnh Hòa - Vụ Bản - Nam Hà, về thành tích có tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường ... và thành tích trong trận chiến tại Bù Đốp ngày 28/11/1967.

2. Ảnh chụp Giấy khen của đc Nhâm Văn Khải, lưu tại Đại học công nghệ Texas



Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

[5.819] Giấy chứng nhận khen thưởng của đc Quách Văn Nghĩa, đơn vị Đại đội 14 vận tải - Phân trạm C - Cục Hậu cần Mặt trận B5, quê Cán Khê - Như Xuân - Thanh Hóa

20260102211132

1. Ngày 9/3/1969 tại Cam Lộ - Quảng Trị, quân Mỹ thu giữ nhiều giấy tờ của bộ đội thuộc Đại đội 14 vận tải - Phân trạm C - Cục Hậu cần Mặt trận B5.

Một trong số đó có Giấy tờ của đc Quách Văn Nghĩa, gồm:

- Giấy chứng nhận khen thưởng đề tháng 11/1968 do đc Phó Chủ nhiệm chính trị - Cục Hậu cần B5, mang tên đc Quách Văn Nghĩa, quê Cán Khê - Như Xuân - Thanh Hóa, được tặng Giấy khen tổng kết chiến đấu tại chiến trường B5.

- Một vỏ phong bì thư đề người gửi là Lê Xuân Hà, người nhận là Quách Văn Nghĩa, hòm thư 32743 C14 XB.

2. Ảnh chụp Giấy chứng nhận khen thưởng, lưu tại Đại học công nghệ Texas.



Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

[3.403] Sổ ghi chép của đc Trịnh Duy Lân, đơn vị Đại đội 14 vận tải - Phân trạm C - Cục Hậu cần Mặt trận B5, quê Xuân Lai - Thọ Xuân - Thanh Hóa

20251229591169

1. Tháng 3/1969 ở Quảng Trị, quân Mỹ thu giữ nhiều giấy tờ của  Đại đội 14 vận tải - Phân trạm C - Cục Hậu cần Mặt trận B5.

Một trong số đó có Sổ ghi chép của đc Trịnh Duy Lân, đơn vị Đại đội 14 vận tải - Phân trạm C - Cục Hậu cần Mặt trận B5, quê Xuân Lai - Thọ Xuân - Thanh Hóa.

2. Ảnh chụp 1 trang cuốn sổ, lưu tại Đại học công nghệ Texas



[5.818.2] Giấy chứng nhận khen thưởng của đc Bùi Viết Mẫn và đc Trần Văn Bùng, đại đội 12 tiểu đoàn 9 trung đoàn 209 sư đoàn 7

20251229591168 

1. Ngày 19/6/1969, tại Phước Long, quân Mỹ thu từ thi thể bộ đội Việt Nam một số giấy tờ của Trung đoàn 209 sư đoàn 7. 

Một trong số đó có Giấy khen đề ngày 10/6/1969 do đc Phùng Vỵ ký, mang tên đc Bùi Viết Mẫn và đc Trần Văn Bùng, đại đội 12 tiểu đoàn 9 trung đoàn 209 sư đoàn 7 được tặng Bằng khen trong trận chiến đấu ngày 9/6/1969.

2. Ảnh chụp Giấy khen, lưu tại Đại học công nghệ Texas



[5.818.1] Giấy khen của đc Nguyễn Duy Thịnh, đơn vị Đại đội 11 tiểu đoàn 9 trung đoàn 209 sư đoàn 7, quê Yên Đồng - Yên Lạc - Vĩnh Phúc

20251229591168 

1. Ngày 19/6/1969, tại Phước Long, quân Mỹ thu từ thi thể bộ đội Việt Nam một số giấy tờ của Trung đoàn 209 sư đoàn 7. 

Một trong số đó có Giấy khen đề ngày 12/6/1969 do đc Vi Văn Dùng ký, mang tên đc Nguyễn Duy Thịnh, đơn vị Đại đội 11 tiểu đoàn 9 trung đoàn 209 sư đoàn 7, quê Yên Đồng - Yên Lạc - Vĩnh Phúc về thành  tích quyết tâm chiến đấu và công tác tốt.

2. Ảnh chụp Giấy khen, lưu tại Đại học công nghệ Texas



[5.818] Giấy khen của liệt sỹ Bùi Văn Thụng, đơn vị Đại đội 12 tiểu đoàn 9 trung đoàn 209 sư đoàn 7, quê Tân Lập - Bá Thước - Thanh Hóa

20251229591168 

1. Ngày 19/6/1969, tại Phước Long, quân Mỹ thu từ thi thể bộ đội Việt Nam một số giấy tờ của Trung đoàn 209 sư đoàn 7.

Một trong số đó có Giấy khen đề ngày 12/6/1969 do đc Vi Văn Dùng ký, mang tên đc Bùi Văn Thụng đơn vị Đại đội 12 tiểu đoàn 9 trung đoàn 209 sư đoàn 7, quê Tân Lập - Bá Thước - Thanh Hóa về thành  tích quyết tâm chiến đấu và công tác tốt.

2. Web CHính sách quân đội có thông tin về liệt sỹ  Bùi Văn Thụng, khớp với thông tin trong giấy  tờ bị thu giữ, nhưng hy sinh ngày 11/9/1969.

3. Ảnh chụp Giấy khen, lưu tại Đại học công nghệ Texas



[4.137.1] Danh sách gửi tiền của chiến sỹ thuộc tiểu đội trinh sát [có thể thuộc tiểu đoàn 2] Trung đoàn 27 Mặt trận B5, bị thu giữ tháng 7/1968

20251229591167

1. Tháng 7/1968 quân Mỹ có thu giữ nhiều giấy tờ của bộ đội thuộc Trung đoàn 27. Một trong số đó có Danh sách gửi tiền của đơn vị K2 E27 [Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 27]. 

Tổng cộng có 8 đồng chí gửi số tiền là 233 đồng.  Bản danh sách có ghi địa chỉ gia đình các chiến sỹ.

2. Ảnh chụp Bảng danh sách, lưu tại Đại học công nghệ Texas



[4.137] Danh sách gửi tiền của chiến sỹ thuộc tiểu đoàn 2 Trung đoàn 27 Mặt trận B5, bị thu giữ tháng 7/1968

20251229591167

1. Tháng 7/1968 quân Mỹ có thu giữ nhiều giấy tờ của bộ đội thuộc Trung đoàn 27. Một trong số đó có Danh sách gửi tiền của đơn vị K2 E27 [Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 27]. Tổng cộng có 11 đồng chí gửi tiền.

Bản danh sách có ghi địa chỉ gia đình các chiến sỹ.

2. Ảnh chụp Bảng danh sách, lưu tại Đại học công nghệ Texas





[3.400.1] Giấy chứng minh và vỏ phong bì thư của đc Nguyễn Quang Mỡ, đơn vị thuộc Đại đội 7 tiểu đoàn 8 trung đoàn 64 Sư đoàn 320 Mặt trận B5, quê Thế Trụ - Nghĩa Cường - Quốc Oai - Hà Tây

20251229591162

1. Tháng 5/1968 tại Quảng Trị quân Mỹ có thu giữ một số giấy tờ của bộ đội thuộc tiểu đoàn 8 trung đoàn 64 sư đoàn 320. Một trong số đó có giấy tờ mang tên đc NGuyễn Quang Mỡ gồm:

- Giấy chứng minh mang tên đc Nguyễn Quang Mỡ, đơn vị A7 B3 I7 Z8 Sông Cả 20/7 (tức đại đội 7 tiểu đoàn 8 trung đoàn 64 sư đoàn 320)

- Một Vỏ phong bì thư đề người gửi là Nguyễn Quang Mỡ, người nhận ông Nguyễn Quang Xán - Đội 10 Hợp tác xã thôn Thế Trụ xã Nghĩa Cường huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây.

2. Ảnh chụp Giấy chứng minh và vỏ phong bì thư, lưu tại Đại học công nghệ Texas



[5.817] Sổ ghi chép của đc Phạm Văn Tiến, đơn vị Đại đội 3 trung đoàn 27, quê Đan Hà - Hạ Hòa - Phú Thọ

20251229591166

1. Tháng 9/1968 quân Mỹ thu giữ một cuốn sổ ghi chép của đc Phạm Văn Tiến, đơn vị Đại đội 3 tiểu đoàn Sông Lô Trung đoàn 27 Phan Rang.

Theo đó, Đc Phạm Văn Tiến quê ở Đan Hà - Hạ Hòa - Phú Thọ, nhập ngũ 13/4/1968.

Trang đầu cuốn sổ có lời đề tặng ngày 12/4/1968 và chữ ký của đc Phạm Các - Chủ tịch Ủy ban hành chính xã Đan Hà.

* Trong một báo cáo khác của quân Mỹ cùng thu với cuốn sổ này có ảnh chụp 1 nắp túi áo quân phục có chữ Phạm Tiến PR/11 [b/c quân Mỹ ghi có thể Đại đội 11 Trung đoàn 27 Phan Rang]. Chắc chắn cuốn sổ và nắp túi áo quân phục có tên chính là của đc Phạm Văn Tiến.

2. Ảnh chụp 1 trang đầu cuốn sổ, lưu tại Đại học công nghệ Texas