2026013049110
Lược sử tiểu đoàn 14 súng máy
phòng không, Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam
1. Tiểu đoàn H13 SMPK được tổ chức tại miền Bắc Việt Nam trong
tháng 7/1965 nhằm mục đích chi viện hỏa lực phòng không cho các trung đoàn
thuộc Sư đoàn 1. Đơn vị gồm 3 đại đội mang số hiệu 1, 2 và 3. Việc huấn luyện kéo
dài 2 tháng: Giai đoạn 1 huấn luyện sử dụng AK47, CKC, RPD và súng máy phòng
không 12.7mm. Giai đoạn 2 huấn luyện chính trị, binh vận và cách phòng tránh
tâm lý chiến.
2. Đơn vị dời miền Bắc vào tháng 9/1965 và chi viện vào miền Nam tháng 12/1965. Quá trình xâm nhập mất gần 25% quân số do bệnh tật. Đầu năm 1966, tiểu đoàn đóng tại khu vực biên giới Pleiku/Campuchia.
Năm 1967, phiên hiệu tiểu đoàn H-13 SMPK đổi thành tiểu đoàn 14 SMPK. Cuối năm 1967, đơn vị giao chiến tại Đắk Tô
rồi rút về phía Tây Nam sang Campuchia.
3. Cuối tháng 7/1968, Sư
đoàn 1 di chuyển đến Đắk Lắk. Ngày 18/8, tấn công căn cứ biệt kích Đức Lập. Tiểu đoàn 14 SMPK thiết lập các vị trí súng máy 12.7mm quanh
trại để ngăn chặn chi viện đường không.
4. Tháng 11/1968, tiến
vào khu vực Lưỡi Câu. Ngày 14/11, 1 đại đội của tiểu đoàn 14 SMPK chi viện
cho Trung đoàn 95C tại khu vực Căn cứ DOT để ngăn chặn trực thăng.
Trong cuộc tấn công
vào Căn cứ GRANT (XT 3736) ngày 8/3/1969, các loại vũ khí SMPK được nhận diện
gồm 4 đến 6 khẩu 12.7mm bố trí hình móng ngựa bao quanh vùng đổ quân.
Tại khu vực đồn điền
Cầu Khởi ngày 28/3, tiểu đoàn 1 trung đoàn E95C, tiểu đoàn 13 Pháo binh và các
thành phần của tiểu đoàn 14 SMPK phục kích đoàn xe. Đại đội
SMPK có nhiệm vụ ngăn trực thăng tiếp viện. Cuộc giao tranh kéo dài 5 giờ với
Sư đoàn 1 Không kỵ Mỹ. Một lá thư tìm thấy có ghi lại: Các đơn vị thuộc tiểu đoàn 14 SMPK được yêu cầu phải bắn hạ ít nhất 2 máy bay
trong giai đoạn giữa năm 1968.
5. Tiểu đoàn 14 SMPK hiện hoạt động theo cấp tiểu đội khắp Chiến
khu C để phòng thủ chống máy bay. Quân số ước tính khoảng 200 người.
6. Biên chế ước đoán
- Ban Chỉ huy Tiểu đoàn: 50 người.
- Đại đội 1: 50 người.
- Đại đội 2: 150 người.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét