Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

[2.62] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về Ban trinh sát kỹ thuật thuộc Bộ tư lệnh Quân khu 7

20260130490111.51

BAN TRINH SÁT KỸ THUẬT THUỘC BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 7

1. Tổ chức và Nhân sự

Dựa trên thông tin cung cấp bởi một hồi chánhvào ngày 6 tháng 4 về đơn vị cũ là Ban Trinh sát Kỹ thuật thuộc H4, T-7 (tức Quân khu 7). Ban Trinh sát Kỹ thuật bao gồm một bộ phận chỉ huy hỗn hợp và một bộ phận hành chính, với 2 Tổ trực thuộc:

  • Tổ Sóng ngắn (HF): Chuyên đánh chặn mã Morse (CW).
  • Tổ Sóng cực ngắn (UHF): Chuyên đánh chặn liên lạc thoại (vô tuyến điện thoại).

Cơ cấu nhân sự:

  • Ban Chỉ huy: Gồm 1 Trưởng ban, 1 Phó ban và 1 Sĩ quan tham mưu.
  • Bộ phận hành chính: Từ 16 đến 18 người, bao gồm một tổ vận tải và hậu cần khoảng 5 người.
  • Tổ Sóng cực ngắn: Gồm 16 nhân viên (1 tổ trưởng, 1 tổ phó và 14 báo vụ viên).
  • Tổ Sóng ngắn: Gồm khoảng 12 nhân viên (1 tổ trưởng, 1 tổ phó và 10 báo vụ viên).

2. Nhiệm vụ

Nhiệm vụ của Ban Trinh sát Kỹ thuật là đánh chặn các tín hiệu truyền tin bằng giọng nói và mã Morse của Mỹ, Úc và quân SG, sau đó chuyển tiếp tin tức tình báo về Bộ Tư lệnh T-7.

3. Trang bị và Hoạt động

  • Thiết bị: Tổ Sóng cực ngắn được trang bị 4 máy thu phát PRC-25 của Mỹ và các loại ăng-ten lá lúa, ăng-ten dây dài cùng bản đồ do Trung Quốc in. Tổ Sóng ngắn có 6 máy thu hiệu PHILLIPS (loại thương mại 4 băng tần của Hà Lan). Hồi chánh cho biết các máy PRC-25 và Phillips đều được mua từ Campuchia.
  • Mục tiêu: Thu thập tình báo về hoạt động của đối phương, đặc biệt là các đợt không kích và pháo kích sắp diễn ra bằng cách đánh chặn liên lạc thoại.
  • Vị trí: Làm việc trong các hầm ngầm gần Bộ Tư lệnh T-7.
  • Nhân lực: Có 6 thông dịch viên tiếng Anh đảm nhiệm 2 máy PRC-25 và 8 nhân viên khác đảm nhiệm 2 máy còn lại. Thông thường, 2 tổ viên sẽ cùng trực một máy bằng cách sử dụng tai nghe đôi.

4. Quy trình xử lý tin

Khi một thông dịch viên đánh chặn được thông tin, người đó phải ghi chép lại toàn bộ nội dung, đặc biệt chú trọng các từ viết tắt quan trọng (ví dụ: "Alpha Sierra" cho không kích) và các tọa độ liên quan. Nếu bức điện có nội dung khẩn cấp, tổ trưởng hoặc tổ phó sẽ lập tức báo cáo về Bộ Tư lệnh T-7 để các đơn vị kịp thời sơ tán khỏi khu vực mục tiêu.

5. Phối hợp tác chiến

Đôi khi, các tổ trinh sát (mỗi tổ 2 tổ viên và 1 máy PRC-25) được phối thuộc cho các đơn vị chiến đấu cấp trung đoàn trở lên. Hồi chánh dẫn chứng đợt tấn công sau Tết 1969 vào Căn cứ Long Bình, 2 tổ trinh sát đã đi cùng bộ phận tiền phương của T-7. Các tổ này thường đặt thiết bị trong khu vực Sở chỉ huy, cách mục tiêu từ 4 đến 5 km.

6. Khả năng kỹ thuật

  • Tầm thu: Máy PRC-25 dùng ăng-ten dây dài có tầm thu khoảng 30 km; dùng ăng-ten lá lúa đạt khoảng 15 km.
  • Nguồn điện: Sử dụng pin đại nối tiếp, cho phép hoạt động từ 5 đến 9 ngày.
  • Hạn chế: Toàn bộ máy PRC-25 chỉ dùng để thu tin. Ban này không có khả năng gây nhiễu hoặc đánh lừa điện tử.

7. Trình độ chuyên môn

Hồi chánh đánh giá các thông dịch viên được đào tạo tại miền Bắc là rất tinh nhuệ. Cả tổ trưởng và tổ phó đều tốt nghiệp trường Trinh sát Kỹ thuật của miền Bắc. Cán bộ thẩm vấn nhận xét rằng hồi chánh có trình độ thông hiểu tiếng Anh cao dù bản thân anh ta tự nhận chỉ hiểu được 30-40%.

8. Huấn luyện và Mật danh

Trong thời gian tại đơn vị cho đến khi hồi chánh, cá nhân này được huấn luyện về đọc bản đồ, sử dụng máy PRC-25, các quy trình vô tuyến và mật danh. Một số mật danh được ghi nhận: 20, 30, 40, 50 là các căn cứ hỏa lực Úc; 95 là trung tâm điều phối hỏa lực; 29 (TONOME) là Bộ tư lệnh hành quân; 39-A là quan sát viên hàng không.

9. Đánh giá hiệu quả

Hồi chánh khẳng định Ban Trinh sát Kỹ thuật hoạt động rất hiệu quả cho Bộ tư lệnh T-7. Anh ta ước tính quân đội Úc đọc tọa độ trực tiếp (không mã hóa) tới 60% thời gian.

 

[2.61] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về tiểu đoàn 14 súng máy phòng không, Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam

2026013049110

Lược sử tiểu đoàn 14 súng máy phòng không, Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam

1. Tiểu đoàn H13 SMPK được tổ chức tại miền Bắc Việt Nam trong tháng 7/1965 nhằm mục đích chi viện hỏa lực phòng không cho các trung đoàn thuộc Sư đoàn 1. Đơn vị gồm 3 đại đội  mang số hiệu 1, 2 và 3. Việc huấn luyện kéo dài 2 tháng: Giai đoạn 1 huấn luyện sử dụng AK47, CKC, RPD và súng máy phòng không 12.7mm. Giai đoạn 2 huấn luyện chính trị, binh vận và cách phòng tránh tâm lý chiến.

2. Đơn vị dời miền Bắc vào tháng 9/1965 và chi viện vào miền Nam tháng 12/1965. Quá trình xâm nhập mất gần 25% quân số do bệnh tật. Đầu năm 1966, tiểu đoàn đóng tại khu vực biên giới Pleiku/Campuchia. 

Năm 1967, phiên hiệu tiểu đoàn H-13 SMPK đổi thành tiểu đoàn 14 SMPK. Cuối năm 1967, đơn vị giao chiến tại Đắk Tô rồi rút về phía Tây Nam sang Campuchia.

3. Cuối tháng 7/1968, Sư đoàn 1 di chuyển đến Đắk Lắk. Ngày 18/8, tấn công căn cứ biệt kích Đức Lập. Tiểu đoàn 14 SMPK thiết lập các vị trí súng máy 12.7mm quanh trại để ngăn chặn chi viện đường không.

4. Tháng 11/1968, tiến vào khu vực Lưỡi Câu. Ngày 14/11, 1 đại đội của tiểu đoàn 14 SMPK chi viện cho Trung đoàn 95C tại khu vực Căn cứ DOT để ngăn chặn trực thăng.

Trong cuộc tấn công vào Căn cứ GRANT (XT 3736) ngày 8/3/1969, các loại vũ khí SMPK được nhận diện gồm 4 đến 6 khẩu 12.7mm bố trí hình móng ngựa bao quanh vùng đổ quân.

Tại khu vực đồn điền Cầu Khởi ngày 28/3, tiểu đoàn 1 trung đoàn E95C, tiểu đoàn 13 Pháo binh và các thành phần của tiểu đoàn 14 SMPK phục kích đoàn xe. Đại đội SMPK có nhiệm vụ ngăn trực thăng tiếp viện. Cuộc giao tranh kéo dài 5 giờ với Sư đoàn 1 Không kỵ Mỹ. Một lá thư tìm thấy có ghi lại: Các đơn vị thuộc tiểu đoàn 14 SMPK được yêu cầu phải bắn hạ ít nhất 2 máy bay trong giai đoạn giữa năm 1968.

5. Tiểu đoàn 14 SMPK hiện hoạt động theo cấp tiểu đội khắp Chiến khu C để phòng thủ chống máy bay. Quân số ước tính khoảng 200 người.

6. Biên chế ước đoán

- Ban Chỉ huy Tiểu đoàn: 50 người.

- Đại đội 1: 50 người.

- Đại đội 2: 150 người.

 


Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

[3.404] Giấy khen của đc Nhâm Văn Khải, đơn vị đại đội 2 tiểu đoàn 4 trung đoàn 272 sư đoàn 9, quê Vĩnh Hòa - Vụ Bản - Nam Hà

20260129481160

1. Tháng 2/1968 quân Mỹ có thu giữ 2 Giấy khen của đc Nhâm Văn Khải, đơn vị đại đội 2 tiểu đoàn 4 trung đoàn 272 sư đoàn 9, quê Vĩnh Hòa - Vụ Bản - Nam Hà, về thành tích có tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường ... và thành tích trong trận chiến tại Bù Đốp ngày 28/11/1967.

2. Ảnh chụp Giấy khen của đc Nhâm Văn Khải, lưu tại Đại học công nghệ Texas



Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

[5.819] Giấy chứng nhận khen thưởng của đc Quách Văn Nghĩa, đơn vị Đại đội 14 vận tải - Phân trạm C - Cục Hậu cần Mặt trận B5, quê Cán Khê - Như Xuân - Thanh Hóa

20260102211132

1. Ngày 9/3/1969 tại Cam Lộ - Quảng Trị, quân Mỹ thu giữ nhiều giấy tờ của bộ đội thuộc Đại đội 14 vận tải - Phân trạm C - Cục Hậu cần Mặt trận B5.

Một trong số đó có Giấy tờ của đc Quách Văn Nghĩa, gồm:

- Giấy chứng nhận khen thưởng đề tháng 11/1968 do đc Phó Chủ nhiệm chính trị - Cục Hậu cần B5, mang tên đc Quách Văn Nghĩa, quê Cán Khê - Như Xuân - Thanh Hóa, được tặng Giấy khen tổng kết chiến đấu tại chiến trường B5.

- Một vỏ phong bì thư đề người gửi là Lê Xuân Hà, người nhận là Quách Văn Nghĩa, hòm thư 32743 C14 XB.

2. Ảnh chụp Giấy chứng nhận khen thưởng, lưu tại Đại học công nghệ Texas.