2026020626089.60
SƠ LƯỢC THÔNG TIN VỀ CÁC ĐƠN VỊ ĐẶC CÔNG MIỀN TẠI MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
1.
Tại Vùng III chiến thuật, việc sử dụng các đơn vị đặc công đã gia tăng do kết
quả từ hiệu quả tổng thể của chúng với tổn thất nhân sự tối thiểu. Đại tướng Võ
Nguyên Giáp đã từng nói: "Bất kể quân đội Mỹ hay quân đội SG được phòng
thủ mạnh đến đâu, chúng đều có thể bị tiêu diệt bởi những đội quân tinh nhuệ và
đặc biệt của ta với chiến thuật tác chiến đặc biệt." Đặc công là một lực
lượng tinh nhuệ bao gồm chủ yếu là những người tình nguyện, những người nhận
được sự huấn luyện đặc biệt và bồi dưỡng chính trị. Huấn luyện đặc công thường
kéo dài ở 2 tháng cuối nhưng các đợt bồi dưỡng định kỳ tiếp tục được thực hiện
tại các Căn cứ của Phân khu ở ngoài nước, chẳng hạn như ở Ba Thu. Nội dung huấn
luyện bao gồm các khóa học về phá hủy các loại mục tiêu như xe cộ, cơ sở hạ tầng,
công trình và pháo, vũ khí, rocket. Nó nhấn mạnh 5 nguyên tắc đặc công: Lập kế
hoạch chi tiết và trinh sát; Bí mật và bất ngờ; Tốc độ; Chủ động và Linh hoạt.
2. Bộ Tham mưu Quân giải phóng miền Nam đã đưa ra các nhận xét sau về chiến thuật đặc công:
a. Chiến thuật đặc công là một phương pháp chiến đấu đã được tổ tiên ta áp dụng trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Nó cũng là phương pháp chiến đấu của một dân tộc có lực lượng nhỏ nhưng ý chí bất khuất. Họ chiến đấu bằng sự dũng cảm, thông minh và quyết tâm chống lại bất kỳ lực lượng quân xâm lược nào mạnh hơn về trang bị và quân số. Đây là phương pháp chiến đấu của tổ tiên ta và của người dân Việt Nam, những người đầu tiên nghĩ ra và áp dụng phương pháp chiến đấu này.
b. Chiến thuật đặc công phản ánh phương pháp chiến đấu linh hoạt và khéo léo trong chính sách quân sự của Đảng. Đó cũng là sự tiến bộ của chiến tranh nhân dân và của Đảng ta. Sự tiến bộ trong chính sách quân sự khoa học của học thuyết MARX, LENIN đã đóng góp vào kinh nghiệm quân sự của quân đội và nhân dân ta, những người đang đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược.
c. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng đặc công đã trở nên dũng cảm, trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Chiến thuật đặc công sẽ trở thành chiến thuật quen thuộc của quân đội ta và được áp dụng rộng rãi bởi 3 thứ quân trên tất cả các chiến trường: rừng núi, đồng bằng, ven biển, nông thôn và thành thị. Lực lượng đặc công sẽ trở thành lực lượng tin cậy nhất của Đảng ta. Chúng sẽ khiến bọn đế quốc và tay sai khiếp sợ (Bộ Tham mưu ghi nhận nguồn gốc và sự phát triển của đơn vị đặc công là nhờ Đảng, chính phủ và Chủ tịch HỒ CHÍ MINH trong cuộc đấu tranh cách mạng sớm của họ, có lẽ là chống lại thực dân Pháp).
3.
Việc triển khai và sử dụng các đơn vị đặc công không được tiêu chuẩn hóa. Tổ
chức và trang bị của các đơn vị này được điều chỉnh cho phù hợp với nhiệm vụ cụ
thể. Ví dụ, một số đơn vị đặc công nhất định được huấn luyện, trang bị đặc biệt
và sử dụng cho vai trò phá hủy dưới nước. Các nhiệm vụ đặc công thường rơi vào
2 loại riêng biệt: Loại thứ nhất liên quan đến việc đột kích các cơ sở, tiến
hành hoạt động phá hoại và thực hiện phá hủy các mục tiêu then chốt như cầu
đường, nhà máy điện, bến cảng, v.v. Loại thứ hai hỗ trợ các đợt tấn công của bộ
binh bằng cách mở cửa mở qua các vành đai phòng thủ và lô cốt. Đơn vị đặc công
thực hiện nhiệm vụ sau này thường được giao nhiệm vụ vô hiệu hóa một lối đi
xuyên qua rào cản phòng thủ bằng cách sử dụng bộc phá ống để xuyên qua
hàng rào dây thép gai, sau đó đặt bộc phá khối đánh vào các vị trí kiên
cố. Điều này sẽ dọn đường cho bộ binh tràn lên đánh chiếm vị trí.
Đôi khi 2 nhiệm vụ này được kết hợp.
Đặc công xâm nhập vào cơ sở trong khi bộ binh cố gắng đánh chiếm vị trí, hoặc
pháo cối yểm trợ cho sự di chuyển của đặc công; họ sử dụng bộc phá khối để phá
hủy các mục tiêu chính như máy bay, sở chỉ huy hoặc các tòa nhà then chốt khác,
khu vực lưu trữ xăng dầu và kho đạn. Ví dụ về loại tấn công này là các cuộc tấn
công vào căn cứ Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ tại CỦ CHI và DẦU TIẾNG. Những thiệt hại
nặng nề đối với máy bay, các tòa nhà và các điểm xăng dầu đã được thực hiện ở
đó bởi các tổ đặc công. Các đội thủy đặc công sẽ cố gắng đánh sập các cây cầu
trên khắp Phân khu 1 và Phân khu 4, với trọng tâm đặc biệt là cầu PHÚ CƯỜNG và
cầu Tân Cảng để cắt đứt các đơn vị đồng minh tiếp viện.
4.
Tại Vùng III chiến thuật có 20 tiểu đoàn đặc công chủ lực, 5 trong số đó trực
thuộc Phòng Thiết giáp 16 Miền. Mỗi sư đoàn trong số 4 sư đoàn chủ lực MIền thì
có 1 đơn vị đặc công. Phòng Thiết giáp 16 cũng có 3 đại đội đặc công trực thuộc
và mỗi trung đoàn chủ lực có một đại đội đặc công trực thuộc. Các phân khu và
các huyện cũng có khả năng đặc công địa phương vốn có. Ngoài nhiệm vụ phòng thủ
khu vực được gọi là chiến khu "C", Phòng Thiết giáp 16 của Miền
(thường được ký hiệu là A, B, J, v.v.) cũng có trách nhiệm điều hành chung
chương trình huấn luyện đặc công và cung cấp các thành tố đặc công cho các đơn
vị và cơ quan hoạt động trên khắp Vùng III chiến thuật. Ban đầu chỉ gồm 5 tiểu
đoàn đặc công và 3 đại đội đặc công, nhưng sự gia tăng tầm quan trọng chiến
lược đối với kẻ thù đã tạo ra nhu cầu lớn hơn về các đơn vị đặc công. Hiện đang
hoạt động từ trụ sở chính tại KATUM ở chiến khu "C", có những dấu
hiệu cho thấy Phòng Thiết giáp đã huấn luyện được 8 tiểu đoàn để hoạt động tại Vùng
III chiến thuật.
a. Các tài liệu thu được trong đợt Tổng tấn công TẾT 68 cho
thấy Tiểu đoàn 1, D16 Phòng Thiết giáp Miền là một đơn vị tham gia. Người ta
tin rằng sau TẾT, đơn vị này đã được điều về Phân khu 1 và Phân khu 2 để hình
thành hạt nhân của các Tiểu đoàn đặc công 604 và D12.
b. Tiểu đoàn đặc công 2, Phòng Thiết giáp 16 của COSVN lần đầu
tiên được xác định qua các tài liệu vào tháng 10/67 tại khu vực DẦU TIẾNG. Các
tài liệu phát hiện ngày 8/2/68 cho thấy Tiểu đoàn đặc công D2 đã di chuyển từ
khu vực DẦU TIẾNG vào tháng 10/67 để tham gia trận đánh sân bay BIÊN HÒA trong
đợt tấn công TẾT 68. Tù binh từ Tiểu đoàn đặc công D2 địa phương của tỉnh U-1
cho biết hạt nhân đơn vị của họ đến từ Tiểu đoàn đặc công D2, Phòng Thiết giáp
16 Miền, đơn vị đã gần như bị thiệt hại nặng trong đợt tấn công TẾT 68.
c. Tiểu đoàn đặc công 3, Phòng Thiết giáp 16 Miền được xác
định trong các cuộc tấn công ngày 26/9/68 tại KATUM và là lực lượng tấn công
chính trong cuộc tấn công ngày 26/2/69 tại CỦ CHI. Quân số khoảng 300 người,
Tiểu đoàn 3 hoạt động từ một khu vực căn cứ ở Mật khu LONG NGUYÊN. Ngày 17/5/69
có thông tin cho thấy Tiểu đoàn 3 chuẩn bị tham gia tấn công PHƯỚC VĨNH, tuy
nhiên nó nhận được lệnh rút lui.
d. Thông tin ngày 25/9/68 đã xác định đơn vị Tiểu đoàn đặc
công độc lập số 4 của Miền hoạt động tại khu vực KATUM-BÀ CHIÊM. Thông tin ngày
17/5 cho biết Tiểu đoàn đặc công 4 của Miền chuẩn bị tham gia cuộc tấn công
ngày 11/5 vào PHƯỚC VĨNH.
e. Tiểu đoàn đặc công 5 Miền đã được xác định chắc chắn trong
các cuộc tấn công tại KATUM ngày 26/9/68 và 23/2/69 tại DẦU TIẾNG. Tiểu đoàn
này có quân số khoảng 400 người, thường đóng tại khu vực KATUM, tuy nhiên nó đã
di chuyển đến khu vực BÀ CHIÊM trong chiến khu "C" để chuẩn bị cho
các cuộc tấn công.
f. Có những dấu hiệu cho thấy Tiểu đoàn đặc công 6, Phòng
Thiết giáp 16, hiện là Tiểu đoàn đặc công 6 trực thuộc Quân khu 7. Các tài liệu
cho thấy việc chuyển giao nhân sự đã đưa Tiểu đoàn 6 về trực thuộc QK7. Quân số
hiện tại của đơn vị khoảng 130 người và nhiệm vụ của nó là đánh phá các tuyến
đường giao thông dọc theo Đường 25 giữa XUÂN LỘC và LONG BÌNH.
g. Rất ít thông tin được biết về Tiểu đoàn đặc công 7, Phòng
Thiết giáp 16. Dấu hiệu duy nhất về sự tồn tại của nó là ngày 17/5 liên quan
đến việc nó dự kiến tham gia vào một cuộc tấn công vào PHƯỚC VĨNH. Trước cuộc
tấn công, nó được lệnh rút lui cùng Tiểu đoàn đặc công 3 để chấn chỉnh lực
lượng.
h. Tiểu đoàn đặc công 8, Phòng Thiết giáp 16 Miền được xác
định bởi cuộc tấn công ngày 26/2/69 tại CỦ CHI. Đơn vị gồm khoảng 250 người và
hoạt động tại khu vực Thành phố TÂY NINH - NÚI BÀ ĐEN trước khi tấn công CỦ
CHI. Hiện tại Tiểu đoàn đặc công 8 có lẽ nằm ở phía Bắc NÚI BÀ ĐEN.
5. Tóm tắt về tất cả các
đơn vị đặc công lớn hoạt động tại Vùng III chiến thuật
a.
Sư đoàn 1
Do
mới di chuyển đến Vùng III chiến thuật nên có ít thông tin về các đơn vị phụ
thuộc của Sư đoàn 1 tại Vùng này.
Vào
ngày 12/5 tại Căn cứ GRANT, Tiểu đoàn đặc công K28 Sư đoàn 1, đã được sử dụng trong
nỗ lực đánh chiếm Căn cứ này. Tiểu đoàn đặc công được sử dụng vì tin rằng nó có thể
làm tốt hơn một đơn vị bộ binh. Mỗi trung đoàn trong 3 trung đoàn của Sư đoàn 1
đều có một đại đội đặc công.
Quân
số của Tiểu đoàn đặc công K28 là 210 người, chia thành 2 đại đội,với các loại vũ
khí có: súng cối 2x61mm, 8 súng B-40, 8 súng B-41, bộc phá ống, mìn chống tăng
và thuốc nổ TNT. Mặc dù ít thông tin về các đại đội đặc công trực thuộc các
trung đoàn, nhưng tin rằng mỗi đơn vị này mang phiên hiệu C20. Ngoại trừ trận
đánh tại LZ GRANT ngày 12/5, Sư đoàn 1 đã dựa vào các trận pháo cối hạng nặng
trước khi tấn công vào các cơ sở của đồng minh. Rất ít kỹ thuật đặc công được
các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 sử dụng tại đây, mặc dù việc sử dụng các đơn vị đặc
công có thể sẽ gia tăng trong tương lai.
b.
Sư đoàn 7
Theo thông tin nhận được vào tháng 6/68, các
đại đội đặc công và trinh sát của Sư đoàn 7 đã được kết hợp thành 1 tiểu đoàn
với phiên hiệu là Tiểu đoàn 95 Đặc công/Trinh sát. Quân số đơn vị là 300 người
chia thành 1 sở chỉ huy tiểu đoàn và 2 đại đội. Vũ khí bao gồm: súng B-40,
B-41, AK-47, K-54, TNT và mìn.
Hiện
tại cả 3 trung đoàn của Sư đoàn 7 đều có các đại đội đặc công trực thuộc, mỗi
đại đội dùng phiên hiệu C25. Quân số ước tính của mỗi đại đội là 120 người.
Các
đại đội đặc công/trinh sát được duy trì ở mức quân số đầy đủ vì nhu cầu trinh
sát cho các đơn vị bộ binh. Tuy nhiên, điều này có lẽ đề cập đến việc sử dụng
họ như lực lượng trinh sát thay vì lực lượng đặc công. Vũ khí bao gồm mìn các
loại, TNT, súng K-54, AK-47, B-40, B-41, mìn claymore và lựu đạn. Nhiệm vụ là
phá hoại các căn cứ, cơ quan của quân SG, gài mìn phá hoại cầu cống, quốc lộ.
Có rất ít sự giao chiến với các đại đội này trong năm qua. Lý do là loại hình
hành quân của Sư đoàn 7 trong giai đoạn đó: Phần lớn Sư đoàn 7 đóng vai trò an
ninh, cố gắng giữ quyền kiểm soát các vùng lãnh thổ do địch chiếm đóng ở phần
phía Bắc của Vùng III chiến thuật.
c.
Sư đoàn 9
Đơn
vị đặc công trực thuộc Sư đoàn 9 VC được biết đến là Đại đội T95 Đặc công/Trinh
sát từ đầu năm 1963 đến tháng 11/68. Vào thời điểm đó, Đại đội T95 được nâng
cấp thành tiểu đoàn và đổi tên thành Tiểu đoàn T28 Đặc công/Trinh sát, Sư đoàn
9 VC. Tiểu đoàn đã tiến hành nhiều hoạt động phối hợp với các đơn vị khác của
Sư đoàn 9 và các đơn vị địa phương dọc theo biên giới TÂY NINH/Campuchia vào
cuối năm 1968.
Tiểu
đoàn T28 đã di chuyển đến khu vực Mỏ vẹt cùng Trung đoàn 272 vào cuối tháng
1/69. Đơn vị đã tiến hành các nhiệm vụ trinh sát dọc theo các tuyến đường tiếp
cận PHÂN KHU 1 và PHÂN KHU 2 vào SÀI GÒN trong những tháng tiếp theo và dường
như đã được giao nhiệm vụ mũi nhọn tấn công thủ đô. Nhưng vì Trung đoàn 272 bị
tổn thất nặng nề trong đợt Tổng tấn công sau TẾT, nhiệm vụ này đã bị hủy bỏ.
Các
thành phần của Tiểu đoàn T28 được tin là đã di chuyển lên phía Bắc cùng Trung
đoàn 272 vào tháng 4/69, đóng tại phía Tây Bắc Thành phố TÂY NINH. Vào ngày
16/5/69 đã xác định được Tiểu đoàn T28 chuẩn bị tấn công một căn cứ hỏa lực của
Mỹ vào một ngày chưa xác định.
Tiểu
đoàn T28 có quân số ước tính là 250 người. Đơn vị gồm 3 đại đội, các đại đội
này được tách ra trong các giai đoạn hoạt động tấn công để hỗ trợ cho 3 trung
đoàn bộ binh của sư đoàn. Vì Sư đoàn 9 phân tán rộng từ Tây Bắc Thành phố TÂY
NINH đến tận phía Nam Mỏ Vẹt (PARROT'S BEAK), các thành phần trinh sát từ Tiểu
đoàn T28 có thể sẽ hoạt động trên khắp khu vực đó.
d. Ngày 27/3/68 cho thấy dấu hiệu của Tiểu đoàn đặc công GIA
ĐỊNH 4 được hình thành vào khoảng tháng 12/67. Tài liệu tiết lộ quân số tiểu
đoàn tổng cộng là 252 người, tổ chức thành 1 bộ chỉ huy tiểu đoàn gồm 28 người,
2 đại đội đặc công mỗi đại đội 66 người và 2 đại đội thiết giáp mỗi đại đội 46
người, 3 trung đội xung kích mỗi trung đội 14 người và 1 trung đội hỏa lực trợ
chiến cũng 14 người. Mỗi đại đội "thiết giáp" được tổ chức thành 3
trung đội 12 người. Tiểu đoàn được trang bị các loại vũ khí: 141 khẩu AK-47 với
300-350 viên đạn cơ bản; 32 khẩu B-40 với 10 viên đạn cơ bản; 32 khẩu B-41 với
10 viên đạn cơ bản; 74 khẩu súng ngắn K-54 với 50 viên đạn cơ bản và 4 khẩu
súng cối 60mm với 50 viên đạn cơ bản. Ngoài ra, mỗi người mang theo 3 lựu đạn
và 1 khối thuốc nổ định hình 2kg C4. Tiểu đoàn GIA ĐỊNH 4 được phát hiện lần
cuối vào ngày 26/5.
Đơn
vị đặc công này trực thuộc và hoạt động trên khắp PHÂN KHU 1, phối hợp tấn công
với các đơn vị khác của PHÂN KHU 1 và nhiều đơn vị địa phương trong khu vực
hoạt động. Hiện tại, Tiểu đoàn đặc công GIA ĐỊNH 4 đang phân tán ở phía Bắc HÓC
MÔN với quân số ước tính là 225 người.
e. Có rất ít thông tin liên quan đến Tiểu đoàn 12 Đặc
công/Trinh sát. Dấu hiệu đầu tiên về sự hiện diện của đơn vị là vào cuối tháng
2/68 khi các tài liệu thu được liệt kê D12 trong số các đơn vị của PHÂN KHU 2.
Kể từ thời điểm đó, Tiểu đoàn được tin là phân tán rộng rãi ở PHÂN KHU 2 với
nhiệm vụ hỗ trợ đặc công cho các đơn vị PHÂN KHU 2, hỗ trợ trinh sát cho PHÂN
KHU bởi các thành phần của Sư đoàn 9 và bắn hỏa tiễn vào sân bay TÂN SƠN NHẤT.
f. Tiểu đoàn đặc công 252 gồm 280 nhân sự bắt đầu huấn luyện
tại một trường đặc công ở làng THANH BÌNH, huyện CHƯƠNG MỸ, tỉnh SƠN TÂY, miền
Bắc Việt Nam vào tháng 5/67, kéo dài đến cuối tháng 10/67 thì tiểu đoàn bắt đầu
chi viện vào miền Nam bằng xe tải. Tiểu đoàn xuống xe tại tỉnh NGHỆ AN, miền
Bắc Việt Nam và tiếp tục hành quân bộ. Tiểu đoàn dường như đã đến BA THU,
Campuchia vào cuối hè năm 68, sau đó đến huyện CẦN ĐƯỚC, tỉnh LONG AN vào đầu
mùa thu. Tiểu đoàn được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 211 vào đầu tháng 9/68
và được giao cho Phân khu 3. 4 đại đội của tiểu đoàn được tăng cường cho các
đơn vị khác nhau của Phân khu 3 để hỗ trợ đặc công. Ngày 11/5/69, có thông tin tiểu
đoàn có nhiệm vụ đánh sập cầu TÂN AN và BẾN LỨC.
g. Trung đoàn 1, trực thuộc Miền và hoạt động tại Phân khu
3, có 10 đại đội trợ chiến. Mặc dù chưa xác định được đại đội đặc công trực
thuộc trung đoàn, nhưng trung đoàn được tin là có một đại đội đặc công tăng
cường cho một hoặc nhiều tiểu đoàn bộ binh của trung đoàn.
h. Rất ít thông tin về Tiểu đoàn 8 Đặc công thủy của Phân khu
4. Nó có quân số ước tính là 70 người và nhiệm vụ hiện tại là đánh phá tàu
thuyền ở khu vực THỦ ĐỨC và Phân khu 4.
i. Đơn vị Đặc nhiệm của PHÂN KHU 5 được tin là được thành lập
vào tháng 4/68. Ban đầu nhân sự được rút ra từ các đơn vị khác của PHÂN KHU 5
và sau đó được huấn luyện thành đặc công. Ba lĩnh vực cụ thể được nhấn mạnh
trong huấn luyện của họ: Xâm nhập các cơ sở kiên cố, tấn công đa hướng vào một
mục tiêu và phá hoại. Đơn vị Biệt động của PHÂN KHU 5 có lẽ hoạt động độc lập
và hỗ trợ cho Trung đoàn ĐỒNG NAI. Đơn vị được tin là có quân số khoảng 75
người và có nhiệm vụ tấn công các cơ sở cố định ở PHÂN KHU 5.
j. Thông tin ngày 2/3/69 cho biết Tiểu đoàn D21 Đặc công/Trinh
sát, Sư đoàn 5, chỉ thực hiện các cuộc tấn công vào các mục tiêu quân sự quan
trọng. Quy trình tác chiến tiêu chuẩn liên quan đến việc xác định mục tiêu bao
gồm việc D21 thực hiện trinh sát mục tiêu dự kiến. Một báo cáo sau đó được đệ
trình lên sở chỉ huy sư đoàn 5 với đánh giá về tầm quan trọng của mục tiêu. Nếu
Bộ chỉ huy sư đoàn quyết định mục tiêu không thiết yếu, nhiệm vụ sẽ được giao
cho một đại đội bộ binh hoặc không tấn công. Tiểu đoàn D21 nhận được những
nhiệm vụ quan trọng nhất vì họ được coi là đơn vị được trang bị tốt nhất và
huấn luyện kỹ nhất trong Sư đoàn 5. Tiểu đoàn D21 có quân số khoảng 110 người
và giao chiến lần cuối trong cuộc tấn công ngày 18/5 vào XUÂN LỘC. Mục tiêu
truyền thống của D21 là tổ hợp LONG BÌNH - BIÊN HÒA.
k. Lịch sử của các bộ phận Biệt động PHÂN KHU 6 có thể bắt
nguồn từ thời điểm Quân khu 4 tồn tại khi Đơn vị biêt động C10 hoạt động tại Sài
Gòn. Khi các Phân khu ra đời vào tháng 10/67, đơn vị C10 gồm các Tổ có 15 thành
viên được ký hiệu J4, J5, J6, J8 và J12 được giao cho PHÂN KHU 6. Các Tổ J6 và
J8 được kết hợp để tạo thành B8, và J12 được đặt bí danh B12. Sau Tết 68, tất
cả các đơn vị ký hiệu "J" đều bị "thiệt hại nặng" (chỉ còn
lại B8 và B12). Số người còn lại sau đó được gửi đến BA THU để huấn luyện và
được tái lập thành các bộ phận 3-4-5, 6-7-9 và 1-2-8. Những thành phần này sau
đó được sử dụng trong đợt Tổng tấn công tháng 5. Sau đợt tấn công tháng 5, các
đơn vị một lần nữa quay trở lại BA THU và được hình thành thành 5 đơn vị mới ký
hiệu là 1, 2, 3, 5 và 6 Biệt động. Thông tin nhận được cho thấy chỉ có Đơn vị Biệt
động 1 và 2 là có nhân sự với lần lượt 70 và 60 người, trong khi 3 đơn vị còn
lại dường như chưa có quân số. Ngày 14/5/69, thông tin cho thấy các đơn vị đã
được giao phiên hiệu mới từ N10 đến N16. Với thông tin bổ sung, có vẻ như hiện
có 7 Tiểu đoàn biệt động trong thành phố. Các mục tiêu truyền thống bao gồm Đại
sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ chỉ huy quân SG, Khám CHÍ HÒA, các Ty Cảnh sát,
các cơ sở trọng yếu của GVN, nhân sự tổ chức Phượng Hoàng.
l. Tiểu đoàn đặc công 67 (bí danh 525 Đặc công/Công binh)
thuộc QK 7 được cử xuống từ Miền để hỗ trợ đặc công cho QK 7 trong đợt tấn công
đông xuân vừa qua và trước đây trực thuộc Sư đoàn 5. Nhiệm vụ hiện tại của tiểu
đoàn là đánh phá giao thông dọc theo Quốc lộ 1 và Đường 15. Quân số của Tiểu
đoàn 67 là 125 người và vị trí hiện tại của nó có lẽ ở khu vực HÁT DỊCH.
m. Các tài liệu gần đây chỉ ra rằng ĐOÀN 10 đã thuộc quyền chỉ
huy của QK 7. ĐOÀN 10 hiếm khi giao chiến hay nhận dạng và giới hạn hoạt động
của mình chủ yếu là quấy phá tàu bè đồng minh ở RỪNG SÁT. Các nhiệm vụ bổ sung
bao gồm tham gia các cuộc tấn công hỏa tiễn vào NHÀ BÈ, CÁT LÁI và SÀI GÒN. Quân
số đơn vị ước tính khoảng 600 người phân tán khắp RỪNG SÁT.
n. Tiểu đoàn đặc công D1 của tỉnh VC U-1 thường xuyên không
giao chiến trừ khi có các đợt tấn công lớn, khi đó nó thường được nhắm vào tổ
hợp LONG BÌNH - BIÊN HÒA. Nó có quân số khoảng 180 người và có thể sở hữu khả
năng phóng hỏa tiễn 107mm.
o. Tiểu đoàn đặc công D2 của tỉnh U-1 được coi là một tiểu
đoàn yếu và nhìn chung ít khi lộ diện. Vào tháng 2/69, nó có nhiệm vụ tấn công
Thành phố BIÊN HÒA nhưng không hoàn thành được mục tiêu.
p. Thông tin liên quan đến các đại đội đặc công của trung đoàn
về cơ bản chỉ giới hạn ở sự tồn tại của họ. Nhiệm vụ của họ là hỗ trợ trung
đoàn mẹ. Các đại đội sau đây hoạt động trong các khu vực được ghi chú: B19 (21)
Đại đội đặc công/Trung đoàn 275 - Chiến khu "D"; C25 Đại đội đặc
công/Trung đoàn 95 - Tỉnh U-1; C19 Đại đội đặc công/Trung đoàn 174 - Tỉnh BA
BIEN; C19 Đại đội đặc công/Trung đoàn 33 - Tỉnh BA BIEN và C21 Đại đội đặc
công/Trung đoàn 274 - PHÂN KHU 4.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét